(Đọc Di tích Lịch sử văn hoá thương cảng Vân Đồn của Ban Quản lý các di tích trọng điểm Quảng Ninh do NXB Khoa học xã hội ấn hành, 2010)
Một tập sách nghiên cứu dày đến 436 trang, khổ 14,5x20,5 mà chỉ có 2 sai sót cần phải đính chính thôi, chỉ riêng điều đó, đã là một sự ghi nhận rõ rệt giá trị đáng trân trọng của công trình khoa học này. Tất nhiên, có thể người khác sẽ nhận ra những sai sót có thể còn có nữa chăng? Và điều đó, nếu có, cũng là bình thường, còn riêng tôi đọc, tôi mới chỉ phát hiện có thế. Vì đây là một quyển sách công cụ, rất cần thiết cho nhiều người khác nhau cùng sử dụng, và bản thân tôi cũng đã sử dụng, nên những sai sót mới có dịp nhận ra, khi đối chiếu nó với thực tế hoặc những tập sách khoa học khác có độ tin cậy cao hơn. Và vì thế, việc đính chính là vô cùng cần thiết, để những người sau không sai tiếp (như vẫn thường thấy) khi cần trích dẫn những cứ liệu từ cuốn sách công cụ này. Sai sót đó ở phần 2 của tập sách, có tên: Những nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước, như sau:
1- Núi Thiên Liêu không phải là tên gọi xưa của núi Thung ở làng Đồn Sơn mà là tên gọi xưa của núi Phượng Hoàng ở làng Đức Sơn (xã Yên Đức, huyện Đông Triều). 50 năm trước, khi tôi qua Đức Sơn, tôi cũng đã nghe các cụ già nói Đức Sơn là đất phong của một vương thất nhà Trần, nhưng tôi chỉ coi là truyền thuyết hay di ngôn. Theo ông Vũ Văn Hải, hiện là Phó Chủ tịch HĐND xã Yên Đức, nguyên là Phó Chủ tịch UBND xã Yên Đức, người bản địa, thì cái tấm bia đá về núi Thiên Liêu đã đào được từ trước đó khá lâu ở núi Phượng Hoàng làng Đức Sơn. Chi tiết này rất quan trọng vì nó liên quan đến đất phong của vua Trần cho cha mẹ công chúa Bảo Hoàn, một vương gia không được ghi tên (chắc là do đã hàng giặc Nguyên), để thấy sự bố trí đất phong cho các vương thất trong thế chiến lược phòng thủ của nhà Trần. Đến năm 1990, các nhà nghiên cứu Hán Nôm học mới về làng để xác nhận nó về mặt khoa học, nên coi năm đào thấy là 1990, như tập sách trên đã ghi, cũng có thể chấp nhận. Nhưng từ đó mà ghi vào tập sách khoa học trên, với dòng xác nhận địa danh: Núi Thiên Liêu là tên gọi núi Thung xưa, ở làng Đồn Sơn (trang 205) thì là sai. Dù có ngờ ngợ, nhưng bản thân tôi cũng đã sử dụng cái sai này, khi viết bài về Di tích văn hoá xã Yên Đức, bởi ngoài độ tin cậy ở cuốn sách này thì một số báo (tôi có trong tay nhưng không tiện nêu tên) cũng đăng như thế, sau hỏi ra mới biết đều dẫn sai từ cuốn sách trên.
2- Ấp Tĩnh Bang nay thuộc Vĩnh Bảo, Hải Phòng, không phải là đất phong của Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng mà là đất phong của Hưng Ninh vương Trần Tung (trang 202). Cái sai này có từ thời Lê Quý Đôn - Bùi Huy Bích, khi nhầm lẫn bác ruột (Trần Tung) với cháu ruột (Trần Quốc Tảng) đã 250 năm nay, hiện chỉ có rải rác vài 3 cuốn còn mắc phải. Cái sai đó tôi biết là căn cứ vào sách Tuệ Trung Thượng Sĩ ngữ lục do chính Phật hoàng Trần Nhân Tông biên soạn, trong đó có bài Hành trạng của Tuệ Trung do chính nhà vua trực tiếp viết về người thày đương thời của mình (Tuệ Trung Thượng Sĩ là pháp danh của Trần Tung). Gần đây, nhân kỉ niệm 1.000 năm Thăng Long Hà Nội, nhà xuất bản Hà Nội có ấn hành Tuyển tập thơ Thăng Long - Hà Nội 10 thế kỉ, một công trình biên khảo đồ sộ, với sự tham gia của một số nhà Hán Nôm học, đã ghi rõ: “Ấp Tĩnh Bang của Trần Tung nay là vùng đất chùa Linh Sơn, làng Minh Đức, huyện Thuỷ Nguyên, Hải Phòng”. Dù ấp Tĩnh Bang nay ở Vĩnh Bảo hay Thuỷ Nguyên, thì điều quan trọng là đất phong ấy không phải của Trần Quốc Tảng. Điều này rất quan trọng để xác nhận Trần Quốc Tảng không hề có đất phong ở Quảng Ninh hay Hải Phòng hiện nay(*).
TĨNH BANG CẢNH VẬT
Trần Tung (1230-1291)
Dã thự tân khai cảnh vật tân
Phương phi đào lí tứ thời xuân
Nhất thanh mục địch thanh lâu nguyệt
Kì phiến nông soa thấp lũng vân
Lộ vãn dương tường thông tử mạch
Khê vân yến vĩ đoạn hồng trần
Quỉ thần ám địa thâu tương ngữ
Nhất đoạn phong quang khả ẩn quân
Dịch thơ:
CẢNH VẬT ĐẤT TĨNH BANG
Nhà đất làm xong cảnh vật tân
Xum xuê đào lí bốn mùa xuân
Tiếng tiêu trẻ mục, trong trăng rõi
Áo lá nông phu đẫm móc vần
Đường uốn ruột dê thông tử mạch
Ngòi chia đuôi én đứt hồng trần
Quỉ thần luồn đất ghé tai nhủ:
“Một góc phong quang đủ ẩn thân”
ĐINH GIA KHÁNH dịch
Hai cái sai trên trong tổng thể một công trình khoa học là nhỏ, nhưng sẽ rất không nhỏ, nếu người ta căn cứ vào đó để xây các đền miếu hay lập các khu du lịch nhằm quảng bá cho khách thăm quan đến từ trong nước hay ngoài nước.
Trần Nhuận Minh
(*) Trần Tung còn có bài thơ viết về Tĩnh Bang như sau (ghi theo Tuệ Trung Thượng Sĩ ngữ lục do Phật hoàng Trần Nhân Tông biên soạn, bản in năm Chính Hoà thứ 4 (1638) do sư Tuệ Nguyên, chùa Long Động (Yên Tử) đề tựa.