Hát đúm là loại hình dân ca gắn với quá trình quai đê lấn biển lập làng của cư dân bên sông Bạch Đằng. Hình thành trong lao động, sau đó được biểu diễn nhiều ở các lễ hội, hát đúm đã tự thích ứng trong môi trường sống hiện đại.
Xưa kia, người ta thường tổ chức một cuộc hát đúm giữa các làng, đội làng nọ hát đối đáp với đội làng kia. Cứ hát qua hát lại giữa hai bên như vậy đến khi nào một bên chấp nhận thua cuộc. Và có khi, cuộc hát kéo dài đến vài canh giờ. Hội hát đúm được tổ chức trong những không gian diễn xướng gắn với đời sống lao động như cánh đồng, bến sông, đường đi v.v.. Trong xã hội nông nghiệp xưa, khi phương tiện khoa học kỹ thuật còn hạn chế hát đúm không có sự hỗ trợ của âm thanh thiết bị điện tử nhưng lại rất được những thôn dân yêu thích, đặc biệt là thanh niên nam nữ tìm đến hội hát để có dịp làm quen, yêu nhau, cưới nhau.
Trong nhịp sống sôi động hiện nay, hát đúm đã được đưa lên các sân khấu văn nghệ quần chúng với sự hỗ trợ của loa máy âm thanh điện tử. Hát đúm ít tổ chức được thành hai đội với số lượng người hát đông như xưa mà chủ yếu là một hoặc hai cặp nam nữ hát đối đáp theo hình thức sân khấu hoá. Thời gian của các cuộc hát cũng ngắn, chỉ được tính bằng phút và thường phải xen vào một số tiết mục văn nghệ thuộc thể loại khác.
Xem các cuộc hát đúm gần đây ở Hà Nam chúng tôi nhận ra rằng, người hát đều là các cụ cao tuổi, rất ít xuất hiện những gương mặt thanh thiếu niên. Phải chăng, hát đúm đã “lỗi nhịp” trong xã hội hiện đại và không còn say mê với giới trẻ?
Thực tế không phải như vậy, nếu ở Thuỷ Nguyên (Hải Phòng), bên kia sông Bạch Đằng, hát đúm chủ yếu sử dụng lời mới thì hát đúm ở Quảng Yên lại chủ yếu bảo lưu những bài hát lời cổ. Và cả hai cách đều được nhiều bạn trẻ đón nhận. Không những thế, các nghệ nhân còn rất khéo đưa vào lời hát nhiều tên đất, tên làng của vùng quê, điều này vừa thể hiện bản sắc quê hương vừa giúp hát đúm khó bị lẫn, hoặc bị lai tạp vào các vùng khác. Thêm nữa, điều đáng mừng là những câu hát cổ ấy vẫn được một số nghệ nhân cao tuổi dạy lại cho thế hệ trẻ ở các lớp dạy hát đúm tự phát tại nhà.
Tuy vậy, không ít người vẫn tỏ ra lo ngại, giống như những loại hình dân ca giao duyên khác, cái âm điệu đều đều của hát đúm thật khó mà hoà nhập với nhịp sống sôi động đương thời. Qua theo dõi một số cuộc hát ở Quảng Yên, chúng tôi nhận thấy, dù đã có đôi chút biến đổi một cách không thể tránh khỏi nhưng hát đúm Hà Nam vẫn giữ được nét riêng là tính chất ứng đối nhanh nhẹn, tinh nghịch đầy cảm hứng và sáng tạo của người dân vùng biển. Nếu biết xoáy sâu khai thác đặc điểm này thì hát đúm cũng dễ dàng phù hợp với tâm lý của giới trẻ trong đời sống công nghiệp hôm nay.
Theo ông Nguyễn Quang Vinh, Chủ tịch Hội VNDG Quảng Ninh, để phát triển loại hình nghệ thuật diễn xướng dân gian này mạnh mẽ hơn nữa, cần đưa vào một số hoạt động lao động sản xuất, làm lan toả rộng rãi trong đời sống xã hội. Cùng với đó, cần khuyến khích các nhà văn hoá thôn, xã duy trì sinh hoạt hát đúm, như biểu diễn ở lễ hội Tiên Công hay các lễ hội trong năm khác, đưa hát đúm vào chương trình ngoại khoá của học sinh phổ thông trên địa bàn. Và nữa là cần tận dụng phương tiện kỹ thuật hiện đại để ghi hình thu âm, in đĩa CD, VCD giúp bảo lưu và phổ biến hát đúm. Các sản phẩm này nếu khéo biết quảng bá cũng có thể bán làm quà lưu niệm cho du khách. Dài hơi và công phu hơn, Quảng Yên cũng nên mời những nhạc sĩ có thiên hướng viết ca khúc theo âm hưởng dân ca về địa phương thực tế sáng tác. Trong khi các loại hình dân ca khác như quan họ, ví dặm, chầu văn, ca Huế, bài chòi v.v.. được sử dụng rất nhiều thì hát đúm lại ít được khai thác làm chất liệu sáng tác của các nhạc sĩ hiện đại…
Huỳnh Đăng