Sau thời kỳ điêu đứng khi nhà nước xoá bỏ bao cấp, các HTX gốm sứ phải giải thể, mươi năm trở lại đây, những làng nghề gốm sứ tư nhân ở Đông Triều được hình thành và có những bước phát triển khá tốt. Các lò gốm ở hai làng nghề gốm sứ lớn nhất là Vĩnh Hồng và Cầu Đất lại ngày đêm luôn rực lửa hồng mà vẫn không đủ đáp ứng thị trường tiêu thụ...
Nhưng đó là thời điểm cách đây khoảng 3 năm trở về trước; còn bây giờ làng gốm Vĩnh Hồng lại đang rơi vào hoàn cảnh thật điêu đứng. Hôm chúng tôi đến, cảnh tượng của làng nghề này thật buồn tẻ. Đường vào làng gốm vắng hoe, không có bóng người qua lại. Nếu không biết trước thì thật khó mà đoán được đây là nơi sản xuất gốm sứ đã từng vang bóng một thời...
Những lò gốm như thế này còn rất ít ở làng nghề gốm sứ Đông Triều.
Người đầu tiên mà chúng tôi gặp là ông Lê Văn Kiển. Ông đang đứng trước mảnh đất rộng khoảng 1.000m2, vẫn còn ngổn ngang những khuôn làm chậu gốm. Bên trên là một chiếc lò gốm mà ông đang thuê thợ phá dở. Ông mời chúng tôi uống chén trà nóng tại tấm phản gỗ kê ngay ngoài ngõ và nói, giọng đầy nuối tiếc: “- Cách đây khoảng 3 năm, vào những ngày giáp Tết như thế này, kẻ mua, người bán đồ gốm sứ nhộn nhịp, đường làng tấp nập người ra vào. Tầm này mà các cô cậu vào là không có chỗ mà ngồi đâu, tấm phản này chật kín người ngồi đợi mua hàng rồi”. So với mọi người trong làng, gia đình ông Kiển cũng thuộc diện gia đình có thâm niên và tâm huyết với nghề. Trước đây, ông cũng từng là xã viên HTX gốm sứ ánh Hồng. Rồi khi hợp tác xã giải thể, ông trở về gia đình vay vốn để xây dựng lò sản xuất riêng. Mấy năm trước nhà ông Kiển có cả thảy 5 người làm gốm (2 vợ chồng và 3 người con), ngoài ra lúc nào ông cũng phải thuê thêm hàng chục nhân công lao động... Nhưng bây giờ thì khác rồi, sản xuất lãi ít, ông không thể thuê được lao động; ngay cả 3 người con của ông cũng không trụ được, phải đi làm các nghề khác. Ông Kiển chua xót: “- Tôi đã phải đầu tư hàng trăm triệu đồng để gây dựng lò sản xuất gốm, bao nhiêu năm gắn bó với nghề, bây giờ dỡ bỏ, đau lắm chứ!”.
Đó cũng là tình trạng chung của cả làng gốm sứ. Trong làng nhiều hộ khác cũng đang dỡ bỏ lò gốm như nhà ông Kiển. Gia đình anh Thân Văn Chức trước đây có 3 anh em trai đều làm gốm. Nhưng đến thời điểm hiện nay cả ba đều đã bỏ nghề. Anh Chức nói: “- Hai lò nung gốm đã phá bỏ rồi, còn một lò nữa vẫn đang bỏ hoang...”. Được biết, làng gốm Vĩnh Hồng có trên 200 hộ dân, trước đây tập trung khoảng trên 30 lò sản xuất gốm sứ nhưng tới thời điểm này, cả làng chỉ còn khoảng hơn chục lò duy trì sản xuất gốm, trong đó có khoảng 3 lò được sản xuất với quy mô lớn như gia đình anh Trọng, anh Thắng (mỗi tháng khoảng 3 lần ra lò, mỗi lần với khoảng trên 2.000 sản phẩm gốm sứ các loại từ 30 - 70 cm).
Rời làng gốm Vĩnh Hồng, chúng tôi đến khu vực Cầu Đất (xã Đức Chính) Đây là vùng sản xuất gốm của Đông Triều với thương hiệu nổi tiếng gốm sứ Đông Thành. Ông Phạm Văn Ngọc, Trưởng khu Cầu Đất, cho biết, mới chỉ cách đây 3 năm, khu vực Cầu Đất có khoảng 18 lò làm gốm sứ nhưng đến nay cũng chỉ còn có 9 lò. Chúng tôi vào thăm nhà chị Trần Thị Nguyệt, một hộ gia đình có lò sản xuất gốm sứ. Lúc chúng tôi đến đúng vào lúc mẻ gốm gia đình chị đang được đưa ra khỏi lò. Chị Nguyệt cho biết, gia đình chị làm nghề này từ năm 1990. So với thời điểm trước đây, làm gốm sứ bây giờ không lãi bao nhiêu. Mặt hàng gốm sứ nhà chị chủ yếu là các sản phẩm, chậu hoa, đôn, kỷ, bình đốt vàng mã. Trung bình mỗi tháng gia đình chị đốt được 3 lò, 2 vợ chồng làm và thuê nhân công trừ chi phí cũng được khoảng 500 nghìn/lò. Chị Nguyệt nói: “- Bây giờ, giá cả mọi thứ đều đắt đỏ, với mức thu nhập như vậy, so với công sức bỏ ra thì không được bao nhiêu. Mà làm nghề này còn phụ thuộc rất nhiều vào nguyên liệu đốt, đó là củi. Có tháng không mua được củi đành phải ngừng sản xuất. Làm nghề thì đành phải theo nghề thôi, bỏ nghề này cũng chẳng biết làm nghề gì khác''.
Qua tìm hiểu được biết, nguyên nhân chính của tình trạng này chính là do phần lớn các hộ không có vốn mở rộng sản xuất cũng như tìm kiếm bạn hàng. Trong khi đó lại phải đối mặt với sự cạnh tranh về chất lượng mẫu mã của các sản phẩm gốm đến từ nhiều nơi khác như Bát Tràng (Hà Nội), Thái Bình, Hải Dương v.v... Gốm Đông Triều với đặc trưng là dòng gốm nặng lửa, sản phẩm chủ yếu là những hàng to, nặng, cồng kềnh nên ít bán được cho khách du lịch. Gốm Bát Tràng, Thái Bình... thiên về hàng mỹ nghệ, mẫu mã và màu sắc cũng đa dạng, phong phú hơn. Bên cạnh đó, sản phẩm gốm sứ ở các làng nghề Đông Triều làm ra chưa có thị trường ổn định, chủ yếu do tư thương định giá. Các sản phẩm hầu hết được bán ra với giá rẻ nhưng đến tay người tiêu dùng thường gấp 4-5 lần giá xuất ra tại lò... Cũng có một số gia đình muốn đầu tư vào các sản phẩm xuất khẩu, nhưng lại gặp khó khăn trong việc vay vốn. Các ngân hàng ngại cho họ vay vì nhiều lý do nhưng chung quy vẫn là sợ người sản xuất bị thua lỗ... Được biết, năm 2002, Hiệp hội Gốm sứ Đông Triều ra đời nhưng đến thời điểm hiện nay, Hội cũng chẳng có những hoạt động gì thiết thực để giúp những người làm gốm thoát tình trạng khó khăn này.
Để tạo điều kiện cho các làng nghề gốm sứ của huyện Đông Triều phát triển mạnh và bền vững, nên chăng các cấp chính quyền địa phương cần có những chính sách khuyến khích, hỗ trợ các cơ sở sản xuất nhỏ, tạo điều kiện cho họ vay vốn để đầu tư đổi mới trang thiết bị, hiện đại hoá công nghệ v.v... cũng như gắn kết việc quy hoạch phát triển làng nghề với thị trường du lịch và xuất khẩu...
Có như vậy làng nghề gốm sứ Đông Triều mới có thể phát triển như nó đã từng vang bóng một thời...