Hát Then - Nét đẹp trong văn hoá người Tày

Người Tày ở tỉnh Quảng Ninh có dân số đứng thứ 3 sau người Kinh và người Dao. Cũng như các dân tộc anh em khác, tộc người Tày ở Quảng Ninh canh tác chủ yếu bằng nông nghiệp lúa nước, cấy trên ruộng bậc thang, một năm hai vụ chính. Ngoài ra họ còn trồng trọt các loại rau màu trên đất bãi để phát triển nghề chăn nuôi gia súc, gia cầm phục vụ cho đời sống. Đời sống tinh thần của người Tày rất phong phú, đa dạng, đặc biệt là hát then.

Hát Then tiếng Tày Bình Liêu gọi là “xướng then”, có từ xa xưa trong đời sống tinh thần của tộc người Tày, tồn tại theo hình thức truyền miệng trong dân gian từ đời này sang đời khác. Nhạc cụ kèm theo tục hát là cây đàn tính dẫn đường cho lời hát mỗi khi “xướng then”.

Bắt nguồn từ trong lao động sản xuất hoặc trong sinh hoạt hàng ngày, người Tày hát then để cầu chúc sự an khang; để quên đi nỗi vất vả cực nhọc; để trao gửi tâm tình, để cầu chúc cho nhau những điều tốt lành trong cuộc sống... Nghệ thuật hát then tại Bình Liêu có ba làn điệu chính, quy định sẵn theo nốt nhạc, người sáng tác chỉ viết lời, người hát tự lượn then theo tiết tấu của làn điệu. Mỗi câu then có bẩy âm tiết: Âm tiết cuối của câu trước vần với âm tiết thứ năm của câu sau. Hát then có thể hát đơn, hát đôi hoặc hát đối đáp theo kiểu ứng khẩu.

Đặc biệt hát then được các “Bà Then” hát đệm trong các buổi lễ mang tính chất cầu nguyện gọi là: Chái, Pủ Lường, Pủ sí, Lảu then, Hết khoăn... nghĩa là cầu phúc; chúc thọ ông bà. Hát then còn dùng để chúc tụng nhau mỗi khi tết đến, xuân về; hát trong các ngày cưới, ngày mùa kết thúc; hát khi bạn bè, anh em về nhà mới hoặc lâu ngày mới có dịp  gặp lại nhau… Đối với tộc người Tày, trước đây, khi đến một làng khác mà không được mời “xướng then” đã là “mất mặt”, nhưng còn đáng xấu hổ hơn là được mời mà không biết “xướng then”.

Đến Bình Liêu vào những ngày hội, chúng ta vẫn bắt gặp tiếng đàn tính, tiếng then của các bà, các chị ở một số bản như: Cốc Lồng, Bản Pạt, Cáng Bắc (xã Lục Hồn); Piêng Mùng, Nà Khau, Đồng Long, Piêng Tắm (Đồng Tâm); Khe Lánh (Vô Ngại); Chang Nà, Nà Pạt, Pắc Liềng (Tình Húc); khu Bình Công I, Bình Công II (thị trấn Bình Liêu)... Tuy nhiên, hát then hiện nay cũng đang dần bị mất đi theo lớp nghệ nhân lớn tuổi. Bởi lẽ hát then chỉ thu hút được lớp người già, trung niên mà không thu hút được thế hệ trẻ. Mặc dù những năm qua, Sở Văn hoá - Thể thao và Du lịch đã hỗ trợ kinh phí cho các Câu lạc bộ hát then, đàn Tính của huyện Bình Liêu nhằm triển khai đề tài, dự án bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá dân gian tộc người Tày trong đó có phục dựng hát then. Tuy nhiên, lớp trẻ rất ít tham gia vào các câu lạc bộ này.

Thiết nghĩ, trong tương lai, việc phát huy tục hát then rất cần có sự quan tâm, vào cuộc hơn nữa của các cấp, ngành. Đặc biệt, cần tiếp tục mở rộng sưu tầm, bảo tồn, phát huy, đầu tư mở các lớp bồi dưỡng nghệ thuật hát then cho thanh, thiếu niên dân tộc Tày, khơi dậy phong trào hát then trong mọi tầng lớp nhân dân thông qua các nghệ nhân truyền dạy... Có như vậy hát then mới thực sự trở thành một món ăn tinh thần không thể thiếu của cộng đồng cư dân tộc người Tày; góp phần phục hồi và phát triển những yếu tố văn hoá lành mạnh và làm phong phú đời sống tinh thần của nhân dân trong tỉnh.

Nguyễn Trung Hà (Sở VT-TT&DL)

Cùng chuyên mục