Gốm Đông Triều, với hai làng gốm tiêu biểu là Đông Thành (xã Đức Chính) và Ánh Hồng (thị trấn Mạo Khê), từ lâu đã nổi tiếng trong, ngoài nước. Được như vậy là do vùng đất này vốn là nơi có nguồn nguyên liệu đất sét dồi dào và có những loại đá rất đặc trưng để chế ra men gốm...
Tuy nhiên, phải mãi đến năm 1957, những tiềm năng này mới được khai thác. Có thể coi cụ Hoàng Bá Huy như là “ông tổ” của làng gốm Đông Triều. Vốn học được nghề gốm ở Móng Cái, cụ Hoàng Bá Huy về vùng này, thấy nguồn đất sét dồi dào, đã bày cách làm gốm cho người dân. Ban đầu, cụ cho xây dựng một xưởng gốm có một lò bầu nhỏ, có hai ngăn, sau này dân trong nghề vẫn gọi là lò bầu một má. Lúc đó, sản phẩm đều được vuốt bằng tay, chủ yếu là các loại bát, đĩa đơn giản…
Vì cụ tổ nghề học gốm từ Móng Cái nên gốm Đông Triều ít nhiều chịu ảnh hưởng bởi phong cách gốm Móng Cái, dòng gốm nặng lửa nhất nước ta ở thời điểm nửa đầu thế kỷ trước. Tuy nhiên, gốm Đông Triều cũng là dòng sản phẩm có khả năng dung hợp cao những tinh hoa của các dòng gốm khác. Năm 1958, những sản phẩm đầu tiên của gốm Đông Triều chỉ là bát đĩa trang trí đơn giản, đánh chỉ hoặc tỉa hoa văn hình học. Bốn năm sau, xuất hiện thêm các loại ấm chén, tích, liễn hình thành theo lối khuôn gỗ của gốm Bát Tràng. Sau đó, gốm Đông Triều lại thành hình theo kiểu đổ rót của gốm sứ Hải Dương. Đến năm 1979, HTX gốm Ánh Hồng tiến hành đào tạo lại công nhân, mời hàng loạt giảng viên, sinh viên mỹ thuật ở Hà Nội về giúp đỡ thiết kế sản phẩm, hoa văn trang trí. Nhiều hoạ sĩ tên tuổi đã mang lại luồng gió mới cho gốm Đông Triều thời ấy, như Trần Khánh Chương, Tống Như An, Bùi Toàn Hưng, Vũ Nhâm, Đinh Khu, Phạm Đắc Bảo v.v..
Trao đổi với chúng tôi, hoạ sĩ Trần Khánh Chương, Chủ tịch Hội Mỹ thuật Việt Nam, một người từng nhiều lần tập huấn mỹ thuật cho nghệ nhân HTX Ánh Hồng, cho biết: “Gốm Đông Triều so với các làng gốm khác có lịch sử chưa lâu nhưng lại có tốc độ phát triển rất nhanh. Gốm Đông Triều đã trở thành vùng gốm lớn trong cả nước sánh ngang với gốm Hải Dương, gốm Đồng Nai, gốm Thủ Dầu Một…”.
Cũng theo hoạ sĩ Trần Khánh Chương, gốm Đông Triều có sự đa dạng trong mẫu mã sản phẩm, loại men. Tuy nhiên nét đặc trưng dễ nhận ra nhất của men gốm Đông Triều là nét chìm; tức là nghệ nhân thường vẽ hoa văn lên sản phẩm, sau đó mới phủ men và xếp vào lò nung. Kiểu hoa văn trên được gọi là hoa văn chìm dưới men, thường có một lớp chì và được nung ở nhiệt độ rất cao, từ 1.200-1.3000C. Do đó, sản phẩm có độ bền cao, khó bị nứt vỡ, hoa văn không phai màu. Trong khi đó, sản phẩm của các làng gốm sứ khác chủ yếu chỉ được nung ở nhiệt độ 8000C, hoa văn nằm trên men, theo thời gian dễ bị phai màu. Nói cách khác, từ chất liệu, phong cách, loại men, phương pháp nung v.v.. người có nghề chỉ cần nhìn là nhận ra ngay gốm Đông Triều... Ngoài ra, Nghệ nhân Đặng Đức Thạch, nguyên Phó Chủ nhiệm HTX Ánh Hồng, còn cho rằng có sự khác biệt nữa của gốm Đông Triều nằm ở men gốm. Men chủ yếu được chế ra từ những loại đá của Đông Triều. Có đến 22 loại men, tiêu biểu là men ngọc, men chảy, men rạn, men đốm, men trong, men ngoài tráng hai lớp v.v.. Về mặt mỹ thuật, men ngọc và men chảy rất đẹp. Men ngọc vốn có từ xa xưa và chính ông Thạch đã cho thêm vào một số phụ gia để thành men ngọc Đông Triều, loại men chế từ hỗn hợp nhiều loại đá, không pha tạp bất cứ thứ hoá chất nào. Men có độ chịu nhiệt rất cao, xanh như màu ngọc bích rất đẹp. Men chảy khi nung ra, bề ngoài sản phẩm tráng lớp men như chảy từng dòng từ trên xuống rất sinh động. Tuy nhiên, dòng gốm men trắng hoa lam nặng lửa, men chảy hay men ngọc của gốm Đông Triều ngày nay đang dần mai một, rất cần được khôi phục và gìn giữ...
Hải Dương