Hai cô gái trẻ ra đường hóng hớt tin tức. Kể từ ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, rồi thôn xã lập dân quân du kích, đầu làng lối xóm lúc nào cũng toe toe tiếng còi, tiếng trống thúc, không khí rộn ràng hẳn lên, dân tình ai cũng hừng hực nhiệt tình với chính quyền mới thành lập.
Trên đường, hai chàng trai xuất hiện, trong đó một người đeo bao súng lục, thắt đãy bằng chiếc thắt lưng da to bản, trông oai vệ hẳn. Cái Thảo hỏi Xuyến Chi “Mày biết sĩ quan trẻ có khẩu súng lục kia là ai không?”. “Thì anh Hạnh ở ngay đầu làng Đông Hồ, nơi có đền thờ Đức Kinh Dương Vương - Lộc Tục, gần bờ sông Đuống ấy thôi. Hai năm xa làng, không ngờ đã là cán bộ Việt Minh, tiến bộ nhanh thật. Chú ruột anh ta đâu như Trung đoàn phó vệ quốc. Này, nhìn mắt mày biết thừa, đừng có tranh, anh Hạnh là của tao rồi đấy nhé”.
Nói xong, Xuyến Chi cười khúc khích. Hai cô gái đi theo Hạnh, cách một đoạn không xa lắm, đến tận ngoài bãi cỏ rìa làng. Ở đó có tiểu đội du kích vừa thành lập, đang tập quân ngũ. Tiếng chỉ huy vang lên dõng dạc: “Tất cả chú ý, chân có lạt nhấc lên, chân không buộc lạt để nguyên, đi đều. Bước!”. Thảo hì hì: “Mấy anh chàng vẫn không phân biệt được chân nam, chân chiêu, phải buộc lạt tre mà tập. Thế mà ti toe bắn súng với ném “nựu đạn” để giết Tây”.
Xuyến Chi có họ không thông dụng lắm. Trong Liêu trai chí dị của Tàu có chuyện “Hoa Cô Tử” - tức là con hoẵng. Còn nàng có cái tên thật đẹp “Hoa Xuyến Chi” - một loại cây thân thảo mảnh mai, sống rồi chết theo từng mùa, có hoa nhụy vàng, cánh hoa nhỏ màu trắng, vòng quanh đài nhụy như hoa cúc dại.
Trong bối cảnh vừa độc lập, bố Xuyến Chi bỗng trở thành địa chủ yêu nước, có chân trong Mặt trận Việt Minh của xã, rồi quyên góp gạo thóc cho đơn vị Vệ quốc đoàn đóng quân trên địa bàn. Hạnh ra dệ sông, anh vung vẩy trên tay chiếc cần câu cá. Bỗng gặp Xuyến Chi, cô bé cười tươi: “Anh Hạnh còn nhớ em không?”. Gì không nhận ra, người yêu trong mộng của Hạnh mà! Mới có hai năm xa quê, giờ Xuyến Chi đã là cô gái dậy thì phổng phao xinh đẹp. Như ngày xưa, nhìn Xuyến Chi, Hạnh không dám mơ tưởng. Nhưng sau Cách mạng Tháng Tám, đổi đời rồi, dân bần cố nông như anh trở nên thành phần cơ bản của xã hội mới, bỗng có giá. Nhìn ánh mắt, biết nàng đã cảm, Hạnh thừa cơ lấn tới, ôm chầm lấy người đẹp, hôn túi bụi khắp mặt, tai, má, mũi và cổ họng. Sự bạo dạn này... thì chẳng gì, thời gian phiêu dạt thành thị, dạy anh “vào đời” rồi. Xuyến Chi gỡ bao da đòi xem súng lục. Hạnh tái mặt quát to: “Bí mật quân sự, cấm người lạ xem”.
Tuần sau, Thảo khuyên bạn: “Mày đừng ngu yêu thằng Hạnh nữa, nó chỉ lính trơn, trong bao da súng lục, không có vũ khí giết người, đấy chỉ là cái hộp để đựng mồi giun câu cá”. Nghe khích bác, không vì thế Xuyến Chi hết yêu, bởi lẽ nụ hôn đầu đời ngọt lịm của anh Hạnh điển trai, đã giam cầm được trái tim cô gái trẻ.
Lính viễn chinh Pháp tấn công mạnh, khói đạn đang liếm dần các nhà thờ, thôn xóm mà vệ quốc đoàn và du kích cố kháng cự. Phía nam sông Đuống, nơi quê hương Hạnh sắp rơi vào vùng tạm chiếm. Trưa hôm nay, đơn vị vệ quốc của Hạnh được lệnh chuẩn bị dời sang bờ bắc. Mấy con đò đợi sẵn bến sông. Mắt Xuyến Chi nhìn người yêu ướt đẫm, Hạnh khẽ nói: “Anh sang, nhưng khi sắp hoàng hôn, sẽ gặp em bên dệ đê hoang vắng, nơi có một lùm cây chó đẻ”.
Mặt trời dần xuống thấp. Xuyến Chi ngỡ ngàng thấy Hạnh bơi kiểu ếch, từ bờ bắc con sông đào sang nơi hò hẹn. Niềm khát vọng trào dâng. Không biết ra đi, tìm đến nhưng nơi đì đòm tiếng súng, người yêu rồi sống chết ra sao? Xuyến Chi ôm chầm Hạnh, tựa vào lồng ngực vạm vỡ khóc nức nở. Trên mặt đê căng gió, Hạnh hôn lên mái tóc thề bay rối của người yêu, rồi họ ngả xuống bụi cây chó đẻ. Chiếc nón quai thao mà Xuyến Chi mang theo, lăn lông lốc xuống tận chân đê, vật ngửa ra. Xuyến Chi nằm gọn vào lòng Hạnh, dặn người yêu trong nước mắt: “Đi đánh nhau, đừng chết anh nhé!. Là anh yêu em và nghĩ cho em nhiều lắm!”. “Anh hứa sẽ về gặp em kỳ được, dù có thây ma, bom đạn nằm ngập đường, ngập chợ”. Ánh nắng quái loé lên, đúng lúc mặt trời vừa lặn xuống đường chân trời, Hạnh hôn người yêu lần cuối, rồi nhào xuống nước bơi đi. Anh biết, 9 giờ tối nay, đơn vị của mình bắt đầu điểm danh để rời địa bàn.
Sáng thứ bảy đến rồi. Xuyến Chi lại tháo chiếc vòng tuần ở bàn tay trái để thay lại. Bây giờ bọn trẻ yêu nhau không còn biết nữa, nhưng cái ngày xa xôi đó, “thời trang” thời thượng của những cô gái Việt có thứ. Bộ vòng này có 7 chiếc, mỗi chiếc, tương ứng với từng thứ trong tuần. Vì thế họ có thói quen, một khi sáng dậy là tháo ra “lộn” những chiếc vòng lại, để sắp xếp cho đúng “thứ tuần” trên cổ tay cho đúng lịch. Và bộ xà tích, trong đó bắt buộc phải có chiếc cối đúc bằng bạc nho nhỏ, đeo ở dây lưng. Dùng “giã, ngoáy trầu” để bỏ vào miệng có vệt ăn trầu, tạo ra đôi môi “cắn chỉ”. Cắp theo chiếc nón quai thao của... hôm đó, Xuyến Chi đi đến vạ đê, nơi mọc lùm cây chó đẻ hoang dại. Đợi hoàng hôn vừa tắt, lại trở về nhà. Không thể bắt con thay đổi thói quen, cha Xuyến Chi luôn sai đứa hầu gái đi theo bảo vệ.
Tên viễn chinh rất rành tiếng Việt hất hàm hỏi thằng lính bản địa đi cùng: “Trời không nắng, sao con bé xinh đẹp lại mang nón đội đầu”. Nghe được chuyện chung tình với một thằng giặc vệ quốc đoàn nào đó, tên Đồn phó Tây ba vạch cáu lắm, hắn nghiến răng, nguẩy mũi súng lục ra hiệu cho lính dưới quyền cùng mình, đi theo hai cô gái. Xuyến Chi lặng ngắm ánh hoàng hôn dần xuống, âu yếm nhìn bụi cây chó đẻ như cô bạn thân, vì “nó” đã chứng kiến khoảnh khắc thiêng liêng, biến Xuyến Chi từ trinh nữ thành người đàn bà. Con hầu đi theo, bao giờ cũng yên lặng như cái bóng, không nhắc cô chủ, vì đã biết, trời vừa tắt nắng, cô sẽ tự về. Nhưng lần này, con hầu bỗng hét to. Giống như Xuyến Chi nó cũng bị dằn ra bởi hai cơ thể đàn ông lực lưỡng, đã tự lột truồng từ bao giờ, lao đến với sức mạnh hổ vồ...
Hai tên đi dần xa. Đang ôm mặt khóc, Xuyến Chi bỗng chạy theo tên vừa quan hệ với mình. Thấy tiếng kêu của giai nhân, hai tên cảnh giác, nhưng rồi cười rung cả bộ tóc dày sụ trên đầu. “Anh ơi sao nỡ bỏ em đi ngay, biết bao giờ mới được gặp lại?”. Hai tên dừng hẳn lại chờ. Xuyến Chi vùng lao đến vòng rộng tay ôm chặt cổ... người tình. Thật cảm động. Cô rút nhanh dao găm thường dấu trong mình, đâm một nhát vào bụng tên lính, lút bọng mỡ. Thằng lính Việt hoảng hốt lên đạn, bắn chết cô người hầu đang phi thân đến, rồi phát thứ hai, nã vào đầu Xuyến Chi.
Ở quãng vắng này, chuyến đò ngang thỉnh thoảng vẫn bí mật qua lại sông Đuống. Nghe tin đơn vị Hạnh vừa về, Thảo đến gặp anh kể lại chuyện. Cô nói: “Em nhờ người giết thằng lính bắn Xuyến Chi rồi. Còn tên da đen vẫn đang nằm viện. Cứ theo kế hoạch, đúng nửa đêm, em đợi”. Trời khuya đổ mưa, trên mặt sông huyên náo ầm ĩ, tiếng lên đạn lách cách. Chính trị viên trưởng quát: “Bắn, bắn nhanh. Nó dinh tê qua sông rồi!. Dân cơ yếu mà theo hàng giặc, thì chết hết à”. Đạn rít quanh, một viên xuyên vào bắp chân đau nhói, Hạnh vẫn sải tay bơi sang sông, thầm cầu khẩn “để khi khác mới chết, đừng viên nào trúng nữa”.
Hạnh tập tễnh leo ống nước lên cửa sổ tầng 2, vào phòng ưu tiên của bệnh viện. Ở đây vắng ngắt. Bỗng két cửa, người trực xuất hiện. Hạnh kề lưỡi dao vào cổ cô y tá, chỉ thấy đôi mắt cô gái toàn lòng trắng vì sợ. Anh vung tay làm cô ta ngất xỉu, rồi nhè tim tên lính viễn chinh đâm lút cán.
Thảo dẫn Hạnh đến nghĩa địa, cùng đứng bên mộ Xuyến Chi. Hạnh nói: “Em ra đợi, để anh có chuyện riêng cần kể”. Không gian vắng lặng đến nỗi trời vừa mưa mà bọn chẫu chuộc, dế mèn cũng chẳng thèm kêu lên một tiếng. Chỉ còn Hạnh và nấm mộ Xuyến Chi. Hạnh khẽ nói: “Anh giữ lời bên em nhé người yêu” rồi đốt nén hương mà Thảo đưa cho. Gió thổi mạnh. Ánh mắt Xuyến Chi tươi rói, hiện lên trên sắc hồng que hương. Hạnh hôn lên ảnh người yêu. Bia đã lạnh như chì. Chẳng hiểu sao chôn chưa lâu, mà giống hoa xuyến chi đã mọc trên mộ, phả khẽ nụ hoa lên đôi môi Hạnh.
“Anh phải về đơn vị trong đêm nay, người yêu ạ!”. Trầm ngâm, Hạnh bật diêm hút thuốc. Thảo đứng chờ, thấy điếu thuốc lá Hạnh đang hút lập lòm trong đêm, đỏ như ma trơi. Nàng nghĩ, hút xong anh sẽ đến với mình. Cả đất trời xào xạc cỏ xuyến chi làm Hạnh thức tỉnh: “Chia tay nhé, anh đi em nhé!”. Chẳng hiểu sao, Hạnh không muốn gặp Thảo, nên nằm sấp thân, bò trườn qua một đoạn, rồi lặng lẽ nhủi xuống dòng Đuống, bơi về bờ bắc. Hai người bạn cùng đại đội, kẹp chặt tay Hạnh, dẫn đến gặp Chính trị viên trưởng. Hạnh nói: “Đi khỏi đơn vị không xin phép cấp trên, gọi là đảo ngũ cũng phải. Nhưng tôi vượt sông trả thù cho người yêu, chỉ vài tiếng rồi về ngay đơn vị, như thế gọi là không đảo ngũ cũng phải”
Trọng Khang