Quảng Yên là một trong số ít những đô thị cổ ở Quảng Ninh, một thời đã từng vừa là trung tâm thương mại, vừa là thủ phủ của một vùng với bề dày hơn 100 năm (1802-1955).
Về mặt địa lý, thị trấn Quảng Yên nằm ở khu vực Hà Bắc của TX Quảng Yên, bên tả ngạn sông Chanh, tiếp giáp với sông Bạch Đằng và gần với biển. Từ thời phong kiến, Quảng Yên đã được coi là vùng đất có vai trò quan trọng đặc biệt về mặt quân sự ở vùng Đông Bắc Tổ quốc. Các cuộc xâm lăng của quân xâm lược phương Bắc bằng đường thuỷ đều đi qua khu vực này; trên dòng sông Bạch Đằng lịch sử đã diễn ra những chiến công chống quân xâm lược lừng lẫy của nhân dân ta. Đó là chiến thắng năm 938 của Ngô Quyền, năm 981 của Lê Hoàn và năm 1288 dưới quyền chỉ huy của Trần Quốc Tuấn. Chứng tích lịch sử đáng kể nhất là bãi cọc Yên Giang bên bờ sông Chanh ở ven thị trấn và hai cây lim cổ thụ giữa phố Quảng Yên như những chứng nhân quan trọng, chứng kiến bao sự thăng trầm của lịch sử.
Với vị trí địa lý thuận lợi, từ thời Lê sơ, khu vực này đã sớm hình thành những nhóm dân cư sống bằng nghề buôn bán vận chuyển hàng hoá. Đến đầu thời Nguyễn, năm Gia Long thứ nhất (1802), trấn lỵ Quảng Yên được chuyển từ Kim Thành về đây. Đây là cái mốc đầu tiên đánh dấu sự hình thành đô thị Quảng Yên, thủ phủ của một vùng Đông Bắc rộng lớn. Ban đầu, đô thị được hình thành trên đất xã Quỳnh Lâu và xã Yên Giang, dân gian quen gọi là phố Rừng, bởi trước khu này từng là rừng rậm bên sông Bạch Đằng. Năm Minh Mạng thứ 3 (1822), phố Rừng đổi thành thị trấn Quảng Yên và đến năm 1831 khi Minh Mạng tiến hành cải cách hành chính trên quy mô lớn chia cả nước thành 31 tỉnh thì thị trấn Quảng Yên chuyển thành tỉnh Quảng Yên.
Cùng với việc thiết lập làm trung tâm tỉnh lỵ, nhà Nguyễn đã cho xây dựng tại tỉnh Quảng Yên một toà thành. Thành cổ Quảng Yên được xây trên một ngọn núi thấp, hơi thoải, gọi là Tiên Sơn. Thành Quảng Yên được xây đắp bằng đất vào năm Minh Mạng thứ 7 (1826) và không có đường hào bao quanh như thường thấy ở các thành cổ. Sở dĩ nhà Nguyễn quyết định xây dựng thành Quảng Yên theo kiểu kiến trúc này, ngoài lý do tựa theo thế núi để đắp còn do chân thành quá nhiều đá không thể nào đào hào được.
Đến năm Tự Đức thứ 9 (1866), thành được xây bằng gạch, ngoài cửa thành đắp các luỹ hình bán nguyệt. Riêng cửa tả, hữu thì đắp luỹ nhọn đầu. Quy mô thành thời Tự Đức khá lớn, chu vi của thành là 295 trượng, mặt trước cao 9 thước, mặt tả và mặt sau cao 8 thước. Thành mở 3 cửa: Cửa tiền, cửa tả và cửa hữu; từ cửa tiền đến đằng sau núi dài 82 trượng... Thành được xây dựng trên một vị trí quan trọng. Đứng trên thành có thể bao quát được phần lớn thị trấn Quảng Yên cũng như khống chế được các con đường giao thông huyết mạch, trong đó có con đường thuỷ yết hầu là sông Bạch Đằng. Vì nằm ở vị trí chiến lược quan trọng, nên khi thực dân Pháp chiếm tỉnh Quảng Yên cũng cho xây một số công trình quân sự và hành chính ở khu vực này. Thành Quảng Yên trở thành trung tâm chính trị, tập trung bộ máy cai trị vùng Đông Bắc của thực dân Pháp. Trong đó, toà thành được tận dụng tối đa với trại lính khố đỏ đóng trong thành, xung quanh thành là trụ sở bộ máy chính quyền. Vũ khí được trang bị ở thành Quảng Yên là những súng thần công loại trung bình được đặt ở những vị trí có thể khống chế được đường tỉnh lộ và ngăn cản những đợt tấn công, xâm nhập từ bên ngoài. Theo bản đồ huyện Yên Hưng vẽ thời vua Đồng Khánh, thành cổ Quảng Yên xây dựng năm Tự Đức giống hình một cây đàn tranh. Trong đó phía Nam là đáy đàn, phía Đông và phía Tây chính là mặt và đỉnh đàn.
Trải qua thời gian và do nhu cầu sử dụng trong từng thời kỳ, thành đã thay đổi, mặt đông của thành không còn tường thành, duy chỉ còn mặt phía Nam và phía Tây còn khoảng 300m tương đối nguyên vẹn. Tuy nhiên, hiện đoạn tường thành này cũng đang bị xâm hại nghiêm trọng. Nhiều đoạn bị đào phá vô tội vạ. Dấu vết của khu thành cổ Quảng Yên hiện nay vẫn còn, đó là một số đoạn tường thành bằng đất, bằng gạch và bằng đá đã bị thời gian làm cho rêu phong cổ kính hoặc mưa nắng bào mòn trơ màu hoen đỏ của gạch cổ và vài ba khẩu súng thần công cũ kỹ. Khu thành cổ hiện nằm trong khu vực Lữ đoàn 147 Hải quân và một số nhà dân với vô số hoa dây và cỏ dại leo bám.
Ngoài ra Quảng Yên còn một di tích rất cổ xưa, đó là Bến Ngự bên bờ sông Chanh. Năm Quang Thuận thứ 9 (1468) vua Lê Thánh Tông khi mang quân đi duyệt võ trên sông Bạch Đằng đã nghỉ tại ngay bến sông, trước khi đến khu vực núi Truyền Đăng (núi Bài Thơ), bến từ đó được mang tên Bến Ngự. Bến Ngự trước đây cũng như hiện tại có vai trò quan trọng trong việc lưu thông vận chuyển hàng hoá và hành khách trong vùng.
Phố xá Quảng Yên thật bình yên, đường phố không quá đông đúc nhưng rộng rãi, sạch sẽ, từng con phố dọc ngang như những ô bàn cờ. Phố Quảng Yên có cái gì đó mênh mang, dìu dịu, xa nhớ một góc phố xưa của kinh thành Thăng Long. Nhưng càng ngày những dấu vết cổ xưa của một đô thị cổ và trung đại càng mờ nhạt dần trước dáng dấp của một thị trấn trong thời kỳ đổi mới đang được thay da đổi thịt từng ngày. Và thành cổ Quảng Yên, trong trào lưu ấy, cũng đang dần bị hư hại, mai một!
Minh Hà