Chúng tôi đi trên chiếc thuyền máy của ngư dân xã Đông Hải (huyện Tiên Yên) cùng với các cán bộ Phòng VH-TT huyện, Tiến sĩ khảo cổ học Trịnh Hoàng Hiệp (Viện Khảo cổ học Việt Nam) cùng đến Hòn Ngò vào một ngày tháng 9, trong chuyến khai quật di chỉ này lần thứ hai (lần thứ nhất là năm 1998). Hòn Ngò hay còn gọi là Bờ Ngò, là hòn đảo thuộc thôn Hà Tràng Đông, xã Đông Hải, cách thị trấn Tiên Yên khoảng 9km theo đường chim bay. Đây là một bãi bồi thấp, bị ngập nước khi thuỷ triều lên, do đó trên bãi mọc đầy bần, sú, vẹt là những loại cây bãi triều nước mặn.
Việc khai quật lần này nhằm xác định tính chất văn hoá của di chỉ Hòn Ngò, cũng như góp thêm tư liệu nghiên cứu về các di tích khảo cổ học thuộc giai đoạn tiền sơ sử trên địa bàn tỉnh. Đợt khai quật được thực hiện quy mô, các hố khai quật được mở ở khu vực sườn núi, nơi có địa hình khá bằng phẳng và khu vực bãi triều sát chân núi Hòn Ngò về phía nam. Tổng diện tích khai quật là 204m2 với 8 hố khai quật được mở ở các vị trí, độ cao khác nhau cho thấy khu vực trên núi Hòn Ngò không có dấu hiệu cư trú của cư dân cổ. Hiện vật đá ghè đẽo, hiện vật đá mài và đồ gốm chủ yếu được phát hiện trong các hố đào dưới bãi triều nhưng chúng đều nằm trên bề mặt hoặc trong lớp cát, bùn lắng đọng sâu khoảng 10-15cm, cạnh dòng chảy ven chân núi. Những hiện vật này chỉ là những chứng tích còn lại của một khu di chỉ có địa tầng văn hoá, nhưng đã bị phá huỷ hoàn toàn do quá trình rửa trôi và xâm thực của sóng biển trong thời kỳ biển tiến.
Sau khai quật, đoàn khảo cổ đã thu về được 1.084 tiêu bản, gồm chủ yếu là công cụ cuội ghè đẽo, còn lại là rìu đá tứ giác mài toàn thân và đồ gốm. Các loại hình đồ đá ngoài công cụ ghè đẽo và công cụ mài, còn có các loại hình hiện vật như hòn ghè, chày nghiền, phác vật, mảnh tước. Các hiện vật gốm thời kỳ tiền sơ sử đa số là mảnh vỡ, chỉ có duy nhất 1 tiêu bản chậu gốm còn dáng. Hoa văn gốm số lượng ít, là các kiểu hoa văn ấn lưng vỏ sò, văn đan... Bên cạnh đó là rải rác các mảnh gốm thời lịch sử, đều là các loại đồ dùng sinh hoạt có niên đại từ thế kỷ 13-19, chủ yếu là các loại đồ sành (lon, bình vò) và đồ gốm sứ (bát, đĩa).
Qua địa tầng khu vực khai quật cùng với các loại hình di vật cho thấy, di chỉ Hòn Ngò là một di chỉ cư trú ngoài trời. Dấu tích con người cư trú không rõ ràng, có thể họ chỉ cư trú nơi đây trong một thời gian ngắn. Loại hình đồ gốm đa dạng, tuy nhiên chủ yếu là gốm thô, có thể nghề làm gốm ở di chỉ đang ở vào giai đoạn đầu, kỹ thuật còn thô sơ, hoa văn trang trí không tinh xảo.
Cho tới nay chưa thể khẳng định chính xác về niên đại của di chỉ, song dựa vào đặc điểm đồ đá và đồ gốm có thể dự đoán di chỉ Hòn Ngò trải qua hai giai đoạn phát triển sớm muộn khác nhau. Giai đoạn sớm khoảng 5.500 đến 6.000 năm và giai đoạn muộn khoảng 4.500 đến 5.000 năm cách ngày nay. Di chỉ Hòn Ngò có mối quan hệ chặt chẽ với các di tích khu vực ven biển, yếu tố biển để lại dấu ấn mạnh trong đời sống vật chất và tinh thần của cư dân Hòn Ngò. Ở khu vực Đông Bắc Việt Nam có thể thấy yếu tố di chỉ Hòn Ngò ở lớp dưới di chỉ Cái Bèo cho thấy, họ là những người đầu tiên trong việc chiếm lĩnh và khai thác biển ở vùng biển Đông Bắc nước ta.
Anh Vũ