Khi nhà thơ đi cùng nhân dân(*)...

LTS: Vừa qua, tại Hà Nội đã diễn ra “Hội thảo khoa học quốc tế về thi hào Đỗ Phủ” nhân kỉ niệm 1.300 năm ngày sinh của Đại thi hào. Tham luận của nhà thơ Trần Nhuận Minh tại hội thảo đã được nhiều đại biểu lắng nghe. QNCT số này xin giới thiệu để bạn đọc tham khảo...

Đỗ Phủ (712-770) theo sự tìm hiểu của tôi, là nhà thơ đầu tiên trên thế giới đã chọn nhân dân là đối tượng mô tả trung tâm của mình, đã tự xếp mình trong đội ngũ nhân dân, dù ông có ra làm quan và đã chọn toàn bộ đời thơ của mình gắn bó xương thịt với nhân dân mình. Phan Ngọc gọi ông là “nhà thơ dân đen” (trong bộ sách “Đỗ Phủ nhà thơ dân đen”); khái niệm ấy là rất chính xác. Xuân Diệu có câu “Tôi cùng xương thịt với nhân dân của tôi”, có lẽ cũng là bắt nguồn từ Đỗ Phủ. Chính vì lẽ đó mà thơ Đỗ Phủ vô cùng rộng lớn và sâu sắc, có giá trị hiện thực rất cao, phản ánh phong phú một thời đại ở Trung Hoa mà ông đã sống, với một chiều sâu của chủ nghĩa nhân văn, và ở vị thế đó, chưa từng ai sánh ngang được với ông. Cụ Nguyễn Du của chúng ta đã từng thốt lên: “Văn chương nghìn đời là bậc thầy nghìn đời” cũng là rất phải. Đánh giá Đỗ Phủ như thế, Nguyễn Du cũng đã lấy cái thước đo nhân dân và của nhân dân.

Tôi đọc thơ Đỗ Phủ nhiều lần và nhận ra có hai mảng hiện thực lớn được Đỗ Phủ mô tả rất sâu, viết rất hay, chạm đến tận cùng cái cốt lõi của sự sống, cái đáy của đời sống. Đó là nghèo đói và chiến tranh. Trong lịch sử thơ ca thế giới mà tôi đã đọc, đã học, không có nhà thơ nào viết hay đến như thế về hai vấn đề đó như ông. Bởi vì sao? Vì ông đã viết bằng nước mắt và máu của chính mình.

Trước hết là cái đói cái rét của chính ông và gia đình ông. Đây là áo ông mặc: “Áo ngắn kéo dài không phủ cẳng”. Vì thế nên rét. Viết về cái rét đến như thế này thì thật dễ sợ: “Vải thưa quấn xương khô/ Chạy cùng không ấm xác”. Khi ông về thăm nhà: “Vào cửa nghe kêu gào/ Con thơ đói vừa mất”. Đấy là đứa con đã chết. Còn đứa sống thì sao? Nó đói quá, cứ nhè ông mà cắn, như có thể ăn được để cứu cái đói của mình “Gái đói nhè ta cắn”. Và ông vô cùng đau xót cái trách nhiệm làm cha của mình: “Làm cha chẳng đáng cha/ Không cơm bỏ trẻ thác”. Bản thân gia đình ông đói đến mức: “Ba năm đói chạy vào trong núi” để hi vọng tìm thấy cái ăn từ cây cỏ trong rừng. Điều rất quan trọng là từ sự đói rách của ông, của gia đình ông, ông đau thật lòng trước những đói rách của hàng triệu người khác, một nỗi đau vừa ở góc độ cá thể hoá, vừa ở tầm phổ quát, như bà hàng xóm thường hay vặt trộm táo: “Bà ấy không con, chẳng có ăn”, như người dân ở xóm Thạch Hào: “Mẹ cháu chưa rời cháu/ Ra vào quần tả tơi”. Nghèo đói quá đến mức phải bán con cái và điều đó diễn ra không chỉ ở một nơi: “Huống nghe chốn chốn bán con cái/ Vì thuế vì tô cắt khúc lòng”. Họ còn đói rách hơn ông, vì dẫu sao, ông cũng còn là một viên quan, dù là quan nhỏ, không phải đi lính, không phải nộp thuế nộp tô cho nhà nước: “Cả đời khỏi tô thuế/ Sổ lính tên không liệt/ Thế mà vẫn chua cay/ Người thường khổ bao xiết”. Và ông nhận ra, dân khổ đến như thế là tại chính sách của triều đình: “Từng bảo xác xơ vì thuế má”, rồi “Vì thuế vì tô cắt khúc lòng”.

Đói rét cũng còn vì chiến tranh. Chả riêng gì thời nhà Đường, thời nào Trung Quốc cũng loạn lạc liên miên do sự tranh đoạt quyền lực của các thế lực phong kiến: “Cả nước đều giặc giã/ Khói lửa trùm núi sông/ Thây chất tanh cây cỏ/ Máu trôi đỏ lạch đồng”. Chùm thơ “Tam lại”, “Tam biệt” của ông rất nổi tiếng, ai đọc cũng nao lòng. Cưới nhau được một đêm rồi ra trận, không bao giờ trở về. Có người già rồi mới trở về làng sau khi đã thua trận, mẹ đã chết, nhà cửa đã bị đốt phá sạch, vợ con không biết sống hay chết ở đâu, lại bị lôi ra lính ngay. Bắt đến cả người già và trai choai ra trận, vì không còn người. Nhân dân kêu khóc, tiếng khóc ngút trời: “Níu áo dậm chân chặn đường khóc/ Tiếng khóc xông lên thẳng chín tầng”. Ở đâu cũng thấy xác người chết: “Khói lửa soi đêm, thây dọc ngang” Và: “Đêm khuya qua chiến trường/ Trăng soi xương lạnh buốt”. Chỉ đến Đỗ Phủ, câu thơ về cái chết của hàng triệu người lính trận mới thật sự có hình hài: “Xương rỗng kiến bọ đục/ Lại bị cỏ rối vùi...”. Từ sự thật đau lòng đó, điều Đỗ Phủ nhận ra thực giản dị mà cũng thật khủng khiếp: “Mới biết sinh con trai/ Chẳng bằng sinh con gái/ Sinh gái còn được gả gần nhà/ Sinh trai lấp vùi theo cỏ dại”. Và ông kết luận như một người dân thường, giản dị đến chua chát: “Gả con cho lính chiến/ Thà đem vứt bên đường”.

Thơ Đỗ Phủ là thơ của thời loạn, thấm vị mặn của máu tươi và nước mắt. Trang nào cũng có tiếng khóc: “Ông già Đỗ Lăng nuốt tiếng khóc”, “Chồng chạy trốn giặc, vợ khóc đường”, “Nẻo đường đầy tiếng khóc”, “Tiếng khóc xông lên thẳng chín tầng”, “Ma mới kêu oan, ma cũ khóc/ Trời âm mưa thấm tiếng hu hu”... Và như thế, nghèo đói và chiến tranh là hai vấn đề được quan tâm nhất trong thơ Đỗ Phủ, cũng là phần hay nhất của thơ ông, hàng nghìn năm nay làm xúc động tất cả chúng ta. “Chẳng phải đói nghèo đâu đến thế/ Nghĩ cơn khói lửa lệ đầm khăn”. Sống trong nhân dân, đi cùng nhân dân, ông mới có được sự trung thực và dũng cảm, có lẽ là người đầu tiên trong thơ, chỉ ra sự cách biệt như nước với lửa của dân đen và các tầng lớp thống trị: “Vóc lụa thềm son chia/ Do gái nghèo chịu nhọc/ Roi vọt nhà cùng đinh/ Tom góp dâng bệ ngọc”. Điều đó giải thích vì sao: “Quan lớn trong triều ngấy rượu thịt/ Bọn dân mảnh vải tấm tranh không”. Hai câu thơ của ông, được cả thế giới biết đến: “Cửa son rượu thịt ôi/ Ngoài đường xương chết buốt”. Ông có lẽ cũng là người đầu tiên chỉ ra nguyên nhân của hai nỗi thảm khốc đó, nghèo đói và chiến tranh, là do chính sách cai trị phản nhân dân của triều đình phong kiến: “Từng bảo xác xơ vì thuế má...” và bầy tôi trung thành của nhà vua, thường tự coi là người chăm sóc dân như cha mẹ chăm sóc con, được gọi là “quan phụ mẫu”, lại chính là bọn ăn cắp của dân và bọn ăn cướp của dân: “Đạo tặc vốn tôi vua/ Áo dài kiêm đạo tặc”... Từ một nghìn ba trăm năm nay, nhân dân cả thế giới đã nghe thấy lời cảnh báo đáng sợ đó. Và ông cũng đã chỉ ra, vua, chứ chẳng phải ai khác, là kẻ phải chịu trách nhiệm cá nhân cuối cùng trước nỗi đau khổ của hàng triệu người dân, vì mọi mưu đồ của mình: “Vua đã giầu đất nước/ Mở bờ chi lắm a?” Ý nghĩ này rất nhất quán trong thơ ông. Bởi ta lại thấy ông lên tiếng trong một bài thơ khác “Ngoài biên máu chảy thành biển đó/ Mở cõi nhà vua ý chưa bỏ”... 

Thơ ông có ảnh hưởng rất lớn ở Việt Nam, đặc biệt qua Nguyễn Du, và nhiều nhà thơ cổ điển và hiện đại khác. Riêng tôi, tôi học ở Đỗ Phủ rất nhiều điều, mà điều quan trọng nhất là đi cùng nhân dân mình, làm thơ về nhân dân mình, viết cho nhân dân mình. Các nhà thơ thế hệ trước tôi đã nêu những tấm gương sáng về điều đó. Thấm nhuần tư tưởng của Đỗ Phủ, cách đây 15 năm, trong lần đầu tiên đặt chân lên đất nước Trung Hoa vĩ đại, một đất nước chỗ nào cũng gặp những tên tuổi anh hùng của mọi thời binh đao “nhất tướng công thành vạn cốt khô”, tôi mới viết được những câu thơ có lẽ là ưng ý nhất trong cả cuộc đời cầm bút của mình: Có lắm anh hùng đất nước bình yên là một điều vĩ đại/ Không cần có lắm anh hùng, đất nước vẫn bình yên còn vĩ đại hơn nhiều. Và trong mây nước mênh mang bên bờ sông Trường  Giang, câu thơ tâm đắc này của  tôi mới đến với tôi: “Trường Giang hỡi/ Ta mong mọi quốc gia bước lên những đỉnh cao mới/ Bằng những bậc thang không có máu người...” Chính là học Đỗ Phủ mà trong 45 khúc đàn bầu của kẻ vô danh, tôi có câu thơ : “Ta thắp nén hương Đời lạy tạ/ Xin sông núi sinh thành những nhà vua có Đức/ Để mọi gia đình đời đời sum họp/ Và sa trường mọc đầy bông lúa vàng...”

Trần Nhuận Minh


(*) Đầu đề do Toà soạn đặt.

Cùng chuyên mục