Nghi lễ hát chầu văn đã được Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản văn hoá phi vật thể quốc gia và được Chính phủ đồng ý cho lập hồ sơ trình UNESCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại...
Hát chầu văn, còn gọi là hát văn có xuất xứ ở vùng đồng bằng Bắc bộ. Thời kỳ phát triển thịnh vượng nhất của nó là cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Vào thời gian này, thường có các cuộc thi hát được tổ chức để chọn người hát. Bằng cách sử dụng âm nhạc mang tính tâm linh, hát chầu văn, hay còn gọi là hát văn, được coi là hình thức ca hát tín ngưỡng. Lời hát được phổ từ thơ ca dân gian, đôi chỗ vay mượn cả thơ ca bác học. Câu hát văn tuy không chặt chẽ như một bài thơ nhưng khi đọc lên mọi người vẫn thấy du dương, cuốn hút. Lời hát còn nhận được sự bổ trợ của dàn nhạc, điệu múa phụ hoạ v.v.. nên càng sinh động.
Có một thời gian dài do bị hiểu sai là mê tín dị đoan, hát chầu văn bị cấm và đã dần dần mai một. Đến đầu những năm 1990, nó được trả lại sự trong sạch vốn có. Tuy nhiên, lúc này các lão nghệ nhân (cung văn) đã qua đời rất nhiều, người còn lại rất ít. Ở Quảng Ninh hiện nay chỉ còn có một số ít nghệ nhân dân gian hát chầu văn, như các ông, bà Cù Thị Huấn, Nguyễn Thị Hà (Uông Bí), Phạm Thanh Hoà (Hoành Bồ), Nguyễn Văn Phướng (Hạ Long)...
Nghệ nhân Nguyễn Thị Hà kể, năm 1980 đến năm 1988, bà được nghệ nhân Cù Thị Huấn dạy cho biết diễn xướng chầu văn. Từ đó đến nay, bà đã tham gia diễn xướng tại nhiều đền, phủ lớn trong tỉnh cũng như cả nước, tham dự nhiều cuộc thi diễn xướng do Hội UNESCO Bảo tồn văn hoá dân tộc Việt Nam tổ chức. Hiện nay, nghệ nhân Nguyễn Thị Hà có thể trình diễn thành thạo 22 giá (trong số 36 giá hầu đồng hát chầu văn); bao gồm: 3 giá diễn xướng Tam toà thánh mẫu, 4 giá diễn xướng Trần triều, 3 giá tam toà chúa, 5 giá Ông lớn, 6 giá công đồng Thánh Chầu và giá Tứ phủ thánh cậu. Với mỗi giá lại có cách ăn mặc, đi đứng, ca hát khác nhau. Vì vậy, trang phục của người trình diễn thường rất đa dạng, thể hiện phong tục vùng miền mà các vị thánh đại diện, cai quản.
Xét về giá trị văn hoá, nghi lễ hát chầu văn là tín ngưỡng bản địa, đã có sự tích hợp của nhiều loại hình văn hoá dân gian khác nhau như: Âm nhạc dân gian, ca dao dân ca, dân vũ, tri thức dân gian, nghề thủ công truyền thống, trang phục truyền thống, nghệ thuật trang trí dân gian, ẩm thực dân gian v.v.. Do vậy, hát chầu văn phản ánh tư duy, nhận thức về tự nhiên, xã hội của nhân dân ta.
Cũng theo nghệ nhân Nguyễn Thị Hà, nghệ thuật trình diễn dân gian trong nghi thức chầu văn của người Việt mang tính sân khấu hoá và tính ước lệ cao. Người trình diễn đã tái hiện các giá hầu quan, giá hầu chúa, các giá hầu chầu, hầu cô, hầu cậu một cách sinh động mà chỉ có một người thể hiện rất nhiều vai diễn, thể hiện hoàn toàn bằng tâm trạng và gương mặt qua các giai điệu hát chầu văn để kính dâng lên cửa thánh cầu cho quốc thái dân an, cầu bách gia trăm họ được mạnh khoẻ, bình an hạnh phúc. Vì thế đòi hỏi người diễn xướng phải có bản lĩnh sân khấu tự nhiên và phải được học những điều cơ bản nhất của loại hình nghệ thuật này…
Có lẽ cũng chính vì tính chất ước lệ và tính sân khấu hoá cao nên hát văn ngày nay không chỉ bó hẹp trong phạm vi dùng trong nghi lễ mà hát văn cũng được coi như một hình thức ca nhạc dân gian vui tươi lành mạnh và có thể đưa ra công diễn trước đông đảo quần chúng. Thật tiếc là hiện nay ở Quảng Ninh, loại hình hát chầu văn đang bị mai một, số nghệ nhân hát chầu văn còn lại quá ít… Vì thế thời gian gần đây, khi Đoàn Nghệ thuật Chèo Quảng Ninh dàn dựng và đưa vào chương trình biểu diễn một số trích đoạn chầu văn thì khán giả, cả trong và ngoài nước, khi xem đều rất thích thú, tán thưởng…
Huỳnh Đăng