Đã gần 600 năm trôi qua, nhưng mỗi khi đến với Lam Kinh, chắc hẳn du khách sẽ được sống lại không khí sôi sục của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Điều đó cũng dễ hiểu, bởi ngoài những chứng tích lịch sử, những tư liệu thành văn, thì Lam Kinh còn chất chứa trong mình biết bao huyền thoại...
Từ thành phố Thanh Hoá, đi theo hướng Tây Bắc độ chừng 50km là bạn đã đến Lam Kinh. Còn nếu xuất phát từ Hà Nội, thì bạn cứ xuôi theo đường Hồ Chí Minh chừng 150 cây số rồi rẽ trái một đoạn ngắn là gặp Lam Kinh bên phía tả ngạn sông Chu.
Toàn bộ Khu di tích quốc gia đặc biệt Lam Kinh toạ lạc trên thị trấn Lam Sơn, xã Xuân Lam (huyện Thọ Xuân) và xã Kiên Thọ (huyện Ngọc Lặc) tỉnh Thanh Hoá. Khu trung tâm nằm trên xã Xuân Lam rộng chừng 30ha. Tương truyền rằng, gần một ngàn năm trước, cụ tổ của Lê Lợi là Lê Hối đã từng bắt gặp trên vùng đất này cảnh tượng chim chóc quần tụ thành đàn. Đoán biết đây là đất thiêng, cụ đã san đồi để dựng nhà ở. Từ đó, gia trang họ Lê ngày càng được mở rộng, gia nhân ngày càng đông đúc. Đó cũng là thuận lợi về nhân tâm để sau này Lê Lợi dấy nghĩa đánh đuổi quân xâm lược nhà Minh, lên ngôi hoàng đế. Năm 1428, Lê Thái Tổ lấy niên hiệu là Thuận Thiên và đóng đô ở Thăng Long (Đông Kinh). Còn trên khu đất của tổ tiên mình, nhà vua cho xây dựng một kinh đô gọi là Tây Kinh, ngày nay quen gọi Lam Kinh. Lam Kinh dựa lưng vào núi Dầu, mặt dõi theo dải lụa khổng lồ là sông Chu, kế đó có dãy núi Chúa làm tiền án. Bên trái là cánh rừng Phú Lâm bạt ngàn, bên phải là núi Hương và dãy Hàm Rồng che chắn. Toàn bộ khu vực được bố trí theo trục Nam - Bắc trên một khoảng đồi gò có hình chữ Vương trong Hán tự (có người còn hình dung nó giống như một chiếc ngai...). Nhà Lê xây dựng Lam Kinh là mượn theo ý trong Quẻ Ly của Kinh Dịch: “Thánh nhân Nam diện, trị yên thiên hạ” (Bậc thánh nhân quay mặt về Nam cai trị thiên hạ thì sẽ thái bình). Vì thế, đây là vùng đất quan trọng, một thánh địa tôn nghiêm của nhà Hậu Lê; nơi các đời vua về bái yết tổ tiên, vừa là lăng mộ của chính họ sau này.
Phía trước hoàng thành có một con sông đào, bắt nguồn từ hồ nước phía tây chạy vòng ôm lấy Lam Kinh. Dân gian kể rằng, trước kia đáy sông có nhiều viên cuội rất đẹp. Sông thiêng lắm, không ai dám đụng tới. Cố giáo sư Trần Quốc Vượng đã đến đây và gọi sông Ngọc là tiểu huyền thuỷ còn sông Chu là đại huyền thuỷ, tạo thành minh đường cho Lam Kinh. Trên sông Ngọc, người ta bắc cầu Tiên Loan, dân gian gọi là cầu Bạch; có kiến trúc “Thượng gia hạ kiều”. Hiện, cầu gỗ này đã mục nát; một cây cầu ốp đá rất đẹp đã được dựng lên trên vị trí cũ để thay thế.
Đi qua cầu độ chừng vài chục bước chân, bạn sẽ bắt gặp một cái giếng cổ. Tương truyền, trước kia giếng bằng đất, nước rất trong. Gia nhân họ Lê vẫn sử dụng để ăn uống sinh hoạt. Con đường bên giếng nước cổ đưa chúng tôi đến Ngọ môn với 3 lối đi: Chính giữa dành cho hoàng gia, bên phải cho quan văn và bên trái cho quan võ. Trên Ngọ môn có hai vầng nhật nguyệt bằng đá hình tròn. Ngọ môn sẽ dấn lối đến sân chầu rất rộng là nơi để các quan chầu khi vua về bái yết sơn lăng. Sân chầu được phục dựng lại vào năm 2008, lát gạch, lối đi lát đá nhám. Cùng với sông Ngọc, cầu Bạch, giếng cổ, Ngọ môn, sân chầu tạo thành phần nền thứ nhất trong 3 lớp kiến trúc của Lam Kinh. Gần khu sân chầu có một cây đa cổ thụ sừng sững che tán cho cả một góc vườn. Những cụ già ở đây cũng không biết được cây đa có tự bao giờ, chỉ nghe cha ông mình kể lại rằng, đã lâu lắm rồi, có một cây thị cổ thụ mọc lên ở đó. Tán của cây thị rất rộng và kín. Một hôm, có con chim lạ bay từ đâu đến gieo xuống đó một quả đa. Từ trên tán cây thị, cây đa con mọc lên, lớn dần rồi ôm lấy cây thị. Rễ đa quấn quýt với cành thị, buông xuống gốc thị hai cây cứ thế lớn lên bên nhau. Anh Phạm Đức Duy, một hướng dẫn viên của Khu di tích, cho biết: “Nhiều người gọi là cây đa thị. Người khác lãng mạn hơn gọi cặp song sinh ấy là cây “đa tình” vì sự quấn quýt của chúng”.
Từ sân rồng, bước qua bậc thềm được giới hạn bằng 4 con rồng bằng đá xanh đầy uy lực, chúng tôi lên chính điện thuộc phân khu thứ 2. Đáng tiếc, do chiến tranh, hoả hoạn và sự huỷ hoại của một số triều đại phong kiến kế cận, giờ đây chính điện chỉ còn lại dấu vết của những viên đá kê cột. Tuy nhiên, ẩn sau lớp cỏ và những viên đá tưởng như vô tri là cả một vương triều hoàng kim bậc nhất trong lịch sử dân tộc. Cao nhất là lớp nền thứ 3 gồm 9 toà thái miếu và lăng mộ hoàng tộc. 9 toà điện có kiến trúc tương tự nhau, tạo ra một vòng cung ôm lấy chính điện. Lùi sau cửu miếu vài chục mét là lăng mộ Lê Lợi. Ban đầu, mộ đắp đất, bó gạch vồ xung quanh. Đến năm 1995, được tôn tạo xây lại và ốp đá. Trước mộ có 5 cặp tượng đá (gồm quan hầu, lân, tê giác, ngựa, hổ) đứng đối xứng với nhau để trấn trạch.
Trong khuôn viên mộ Lê Lợi, có một loài ổi rất lạ. Chuyện kể rằng, năm nọ, một người đàn ông hiếm muộn từ Nam Định đến nơi đây cầu tự về nhà ít lâu sau vợ có mang và sinh được con trai. Ngay sau đó, ông quay lại khu Lam Kinh làm lễ tạ ơn và cung tiến trước mộ vua Lê Thái Tổ một cặp voi lớn và trồng vào khu vườn này một cây ổi quý. Năm 1942, một nhà khảo cổ học người Pháp vô tình phát hiện ra cây ổi này giống như loài cây xấu hổ; chỉ cần chạm nhẹ ngón tay vào gốc là lá ổi trên cao sẽ đung đưa. Dân khu này gọi là cây ổi “cười” vì như thể chúng biết thẹn thùng, biết nhột khi có ai đó chạm phải. Cách đây mấy năm, cây ổi quý đó đã bị bão lay đổ. Nhưng rất may là trước đó những người trông coi khu mộ đã kịp nhân giống loài ổi này được vài cành. Hiện nay, du khách đến khuôn viên khu mộ Lê Lợi cũng đều rất ngạc nhiên thích thú trước cây ổi lạ biết cười này.
Gần khu lăng mộ còn có bia Vĩnh Lăng, khắc bài văn của Nguyễn Trãi ca ngợi công đức và sự nghiệp của Lê Thái Tổ. Bài văn bia còn là bản hùng ca ghi lại lịch sử oanh liệt của dân tộc với những hội thề Lũng Nhai, chiến thắng Tốt Động đến chuyện huyền thoại trả gươm rùa thần v.v.. Bia làm bằng đá trầm tích nguyên khối, trên một con rùa lớn cũng bằng đá trầm tích. Các trang trí ở diềm bia là nửa lá đề, hình tượng rồng được khắc khá hài hoà. Khi máy bay Mỹ leo thang bắn ra miền Bắc, người dân địa phương đã đắp đất và chèn cây cối lên bia. Vì thế bia Vĩnh Lăng là một trong những hiện vật hiếm hoi của khu Lam Kinh còn lại trọn vẹn cho đến hôm nay. Ngoài lăng mộ Lê Lợi và Vĩnh Lăng, trong khu di tích hiện còn lăng mộ và bia của các vua và các hoàng hậu đời sau. Quần thể lăng mộ và văn bia của nhà Hậu Lê có kiến trúc khá giống nhau là quy mô không lớn, bố cục đơn giản. Nếu không có tượng đá ở bên thì dễ nhầm với mộ người Mường ở Thanh Hoá! Điều đó cũng xuất phát từ cốt cách giản dị, mộc mạc và gần dân của Lê Thái Tổ. Nhưng đằng sau vẻ thô phác ấy là nhân cách giản dị, đáng kính. Trong việc xây lăng mộ, các vua Lê đời sau không dám xây vượt mộ Lê Thái Tổ...
Trước sự băng hoại của thời gian và những biến thiên lịch sử, nhiều kiến trúc quý giá của Lam Kinh nay đã không còn nữa. Nhưng những gì còn lại, được bao phủ dưới cánh rừng rộng gần 100ha thâm nghiêm này cũng đủ làm cho du khách trở về cùng biết bao câu chuyện huyền thoại về một thời dựng nước và giữ nước cách đây mấy trăm năm. Chia tay Lam Kinh, dường như tôi vẫn nghe trong tiếng lá cây xào xạc có âm thanh ngựa hí, tiếng quân reo…
Hải Dương