Ngày 19-6 vừa qua, Hội thảo khoa học lần 1 “Nhận diện giá trị nổi bật toàn cầu của Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử” đã diễn ra với sự tham gia của nhiều nhà khoa học, chuyên gia trong nước và quốc tế. Các ý kiến đã khẳng định, tiếp tục làm rõ những giá trị nổi bật toàn cầu, đồng thời đề xuất việc lựa chọn các tiêu chí phù hợp, ranh giới di sản để lập hồ sơ trình UNESCO đề nghị công nhận Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử là Di sản thế giới. Nhằm giúp bạn đọc nắm bắt sâu hơn các thông tin bổ ích, quan trọng về Hội thảo ý nghĩa này Báo Quảng Ninh thực hiện chuyên đề dưới đây.
Khẳng định giá trị di sản
Hội thảo lần này có sự tham gia của các chuyên gia quốc tế mang tính độc lập như GS Paul Dingwall (chuyên gia về tự nhiên), GS Ueno Kunikazu (khảo cổ, kiến trúc, nhất là kiến trúc phật giáo), TS Radhikha Dhumal (cảnh quan văn hoá). Các chuyên gia tên tuổi trong nước ở nhiều lĩnh vực chuyên môn khác nhau, từng tham gia nghiên cứu, khảo sát các di tích trong Quần thể di sản đề cử, là: GS Lưu Trần Tiêu, PGS Tống Trung Tín, TS Nguyễn Quốc Tuấn, TS Trần Tân Văn, TS Lê Thị Liên, Ths Nguyễn Văn Anh… Điểm chung là mặc dù tham dự hội thảo với tư cách chuyên gia độc lập, nhưng các ý kiến bày tỏ đều là những kiến thức, kinh nghiệm của những người dày dạn trong việc lập hồ sơ di sản thế giới.
Quần thể di sản đề cử được bàn đến tại Hội thảo thuộc 4 khu di tích: Yên Tử, nhà Trần tại Đông Triều (Quảng Ninh), Tây Yên Tử (Bắc Giang) và Côn Sơn - Kiếp Bạc - Thanh Mai (Hải Dương). Danh sách này được mở rộng hơn (thêm khu di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc - Thanh Mai) so với khi đưa vào danh sách dự kiến của UNESCO trước đây.Các tham luận nhấn mạnh, khu vực di sản trên là đại diện tiêu biểu, minh chứng cho sự khởi phát của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử - quốc đạo, triết lý sống của dân tộc Việt thời Trần, còn tiếp tục được duy trì cho đến ngày nay và lan toả ra một số nước trên thế giới. Yên Tử là nơi ra đời của Thiền phái Trúc Lâm, trở thành Đất Tổ Phật giáo Trúc Lâm Việt Nam... Văn bia thời Trần ở chùa Thanh Mai và chùa Vĩnh Nghiêm đã mô tả chùa Vĩnh Nghiêm như một trụ sở Giáo hội Phật giáo Trúc Lâm; tăng đoàn thuộc Giáo hội Trúc Lâm có tới 30.000 tăng, ni.
Tư tưởng, tinh thần Phật giáo Trúc Lâm có ảnh hưởng lớn, tác động trực tiếp theo hướng tích cực đến các tầng lớp nhân dân trong xã hội thời Trần. Phật giáo Trúc Lâm là yếu tố quan trọng cố kết nhân tâm, tạo nên sức mạnh đoàn kết dân tộc, giúp các nhà chính trị thời Trần lãnh đạo toàn dân ba lần đánh thắng quân xâm lược Nguyên Mông, thi hành chính sách thân dân, hoà hiếu với lân bang, xây dựng đất nước thịnh vượng.
Hơn 700 năm qua, Phật giáo Trúc Lâm đã trải qua nhiều biến cố, gắn liền với sự diễn tiến thăng trầm của lịch sử Việt Nam nhưng vẫn được duy trì và phát triển. Ngày nay, tinh thần, tư tưởng Phật giáo Trúc Lâm thời Trần vẫn được tăng, ni, phật tử ở Việt Nam tu học. Trong đó, riêng hệ phái Thiền tông chủ trương khôi phục Phật giáo thời Trần đã có tới hàng chục vạn người đang tu học tại hơn 60 thiền viện, thiền tự trong và ngoài nước; tinh hoa văn hoá Trúc Lâm Yên Tử đã được phổ biến tới hàng chục triệu lượt người, ngày càng lan toả sâu rộng.
Các khu vực di tích nêu trên là nơi bảo tồn tốt nhất một số di sản văn hoá đặc biệt quan trọng của Việt Nam, trong đó có những di sản đã được công nhận tầm cỡ quốc tế. Tiêu biểu trong số đó là: Bia đá ở chùa Thanh Mai, lễ hội đền Kiếp Bạc, chùa Côn Sơn (Hải Dương); bảo tượng Phật Hoàng Trần Nhân Tông (tháp Huệ Quang Yên Tử), sinh hoạt Phật giáo Trúc Lâm tại chùa Lân - Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử (Quảng Ninh); hương án đá chùa Cao, kho tàng mộc bản ở chùa Vĩnh Nghiêm (Bắc Giang)... Đó là những bằng chứng đặc biệt về một truyền thống văn hoá đang tồn tại ở Quần thể di sản đề cử...
Lựa chọn tiêu chí nào?
Qua nhận dạng bước đầu một số giá trị nổi bật toàn cầu của 4 khu di tích (KDT) trong Quần thể di sản, đa phần các ý kiến tại hội thảo đánh giá cao việc đề cử theo loại hình Di sản văn hoá với các tiêu chí V, VI, thể hiện sự kết nối giữa văn hoá - con người và cảnh quan.
Tuy vậy, một vài ý kiến lại tham vấn sử dụng tiêu chí II, tiêu chí III cùng với tiêu chí VI (tiêu chí không đề cử độc lập, chỉ bổ sung cho các tiêu chí khác). Ông Phạm Sanh Châu, Tổng thư ký Uỷ ban UNESCO Việt Nam, đặt vấn đề: Tại sao chúng ta lại không sử dụng tiêu chí số III, bởi Yên Tử là một điển hình tiêu biểu chứng minh cho một truyền thống đã tồn tại suốt 700 năm qua? Cá nhân tôi không đánh giá mạnh tiêu chí V vì nó rất mạnh với Tràng An nhưng không thực sự mạnh với Yên Tử. Phật giáo vào Việt Nam lại xuất ra thế giới có thể là một thế mạnh riêng của Yên Tử...
GS Paul Dingwall chia sẻ: Chúng tôi nghĩ tiêu chí III khó chứng minh vì nó liên quan đến tính độc đáo, ngoại lệ của một nền văn minh đang tồn tại hoặc đã biến mất... Đừng quá lo ngại khi sử dụng tiêu chí V liên quan đến cảnh quan văn hoá. Đây là 1 tiêu chí mạnh với hơn 20 di sản ở châu Á, trên 80 di sản trên toàn thế giới được công nhận là cảnh quan văn hoá. Tiêu chí II cũng có thể tham khảo nhưng cần xem xét thật cẩn trọng, có thể gặp phản biện về tính quan yếu của nó...
Liên quan đến việc xác định ranh giới di sản đề cử cũng có những luồng ý kiến khác nhau. GS Paul khuyến cáo trong việc tính toán đến khả năng quản lý di sản đề cử, nếu quy mô lớn, phức tạp thì phải mất nhiều hơn về thời gian, công sức, đồng thời cũng phải tính đến số liệu, thông tin có thể chứng minh được đảm bảo theo các tiêu chí độc đáo, toàn diện, xác thực của di sản. Do vậy, ông đề xuất lựa chọn khu vực di sản có sự hạn chế, đồng thời bổ sung thêm KDT Chiến thắng Bạch Đằng vào Quần thể di sản đề cử, theo 2 phương án.
Theo đó, phương án 1 sẽ gồm 3 KDT: Yên Tử - Bạch Đằng - Tây Yên Tử. Trong đó, Yên Tử là kinh đô Phật giáo; khu vực xảy ra trận chiến Bạch Đằng là 1 điểm cốt yếu trong lịch sử, đó là một câu chuyện rất độc đáo mà chúng ta có thể chứng minh được; chùa Vĩnh Nghiêm, Tây Yên Tử đã được UNESCO công nhận, là trung tâm sự phát triển của tinh thần, giáo lý phật giáo Trúc Lâm, đó là tầm quan trọng có tính khu vực và thế giới. 3 khu vực này tạo thành 1 chủ đề cốt lõi, xuyên suốt mà những địa điểm khác khó có thể có sự kết nối liên hoàn.
Phương án 2 là bổ sung thêm KDT Côn Sơn - Kiếp Bạc - chùa Thanh Mai, nơi có 1 vị tướng đã thánh hoá, là người đã chỉ huy 3 trận chiến đánh quân Nguyên Mông và KDT nhà Trần tại Đông Triều có Ngoạ Vân, nơi Phật hoàng nhập niết bàn. GS Paul Dingwall khuyến cáo: “Nếu khuôn ở 3 địa điểm thì có thể lập hồ sơ năm nay, nếu lên tới 6 địa điểm thì có thể phải mất 2 năm. Chúng ta cũng có thể làm theo giai đoạn, từ 3 địa điểm đầu tiên tiếp tục mở rộng ra thêm các địa điểm khác vào những năm sau”.
Không đồng tình bổ sung KDT Bạch Đằng và bỏ KDT của Hải Dương, PGS.TS Đặng Văn Bài cho rằng cần có KDT của Hải Dương, vì nếu tách khu vực di tích có liên quan đến Pháp Loa - Huyền Quang, 2 vị tổ của Thiền phái Trúc Lâm ra thì Quần thể sẽ không đầy đủ, hoàn chỉnh. Vì vậy, ông giữ quan điểm ban đầu đề nghị khu vực đề cử gồm cả 4 KDT kể trên.
Với việc tranh luận vẫn chưa thể thống nhất về cả tiêu chí sử dụng và ranh giới di sản đề cử, đồng chí Vũ Thị Thu Thuỷ, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, kết luận: Việc sử dụng tiêu chí nào trong hồ sơ đề cử di sản, xác định ranh giới di sản sẽ tiếp tục được bàn sâu trong hội thảo lần 2, do UBND tỉnh tổ chức vào tháng 8 tới. Với mục tiêu “vừa chạy vừa xếp hàng” để có hồ sơ nộp cho UNESCO vào tháng 9 tới, Quảng Ninh sẽ tiến hành song song việc lập kế hoạch quản lý mà thành viên BQL di sản này sẽ trực thuộc UBND tỉnh, mời các tỉnh có địa điểm đề cử cùng tham gia. Quảng Ninh có quyết tâm chính trị mạnh mẽ, tin tưởng vào sự thành công của hồ sơ. Vì vậy, Quảng Ninh mong sẽ tiếp tục nhận được sự giúp đỡ về cả kiến thức, kinh nghiệm, trách nhiệm, tâm huyết của các nhà khoa học, nhà quản lý để có thể bảo vệ hồ sơ này vào kỳ họp năm 2017 của UNESCO.
Phan Hằng
| Quần thể Di tích và Danh thắng Yên Tử 1. KDT lịch sử - danh thắng Yên Tử (Quảng Ninh) Nằm ở sườn Nam dãy núi Yên Tử, KDT gồm các di tích chính gồm: 10 ngôi chùa được xây dựng từ thời Trần - Lê nằm dọc theo tuyến đường hành hương khoảng 18km từ chùa Bí Thượng đến chùa Đồng; 6 dấu tích nền móng am thời Trần; khoảng 150 ngôi tháp thời Trần, Lê, Nguyễn, trong đó có tháp thờ xá - lợi Vua - Phật Trần Nhân Tông. KDT này còn lưu giữ hàng nghìn di vật cổ; những di tích mang yếu tố Đạo giáo hoặc pháp môn Tịnh Độ thể hiện sự dung hợp, hiển đạt Tam tông (Thiền - Tịnh - Mật) và Tam giáo đồng nguyên của Phật giáo Trúc Lâm thời Trần. Phần lớn các chùa, tháp ở đây đều đã được trùng tu và ở vị trí trung tâm Rừng quốc gia Yên Tử, trong đó có di tích Đường Tùng được coi là “hàng cây trồng cổ nhất Việt Nam”... 2. KDT lịch sử nhà Trần ở Đông Triều (Quảng Ninh) Là quần thể di tích tín ngưỡng, tôn giáo thời Trần trên vùng đất An Sinh cổ (nay là Đông Triều), thuộc sườn Nam dãy núi Yên Tử. Đây là nơi lưu giữ nhiều dấu tích nhất về tiên miếu, các di tích lăng mộ của vua và hoàng hậu nhà Trần có niên đại thế kỷ XIV. Trong đó có am Ngoạ Vân, nơi vua Trần Nhân Tông tu hành và viên tịch, được xem là “Thánh địa Trúc Lâm” của nhà Trần. 3. Khu DT-DT Tây Yên Tử (Bắc Giang) Trải dài ở sườn phía Tây dãy núi Yên Tử, KDT gồm các di tích chính như: Chùa Vĩnh Nghiêm, chùa Kem, Am Vãi, Yên Mã, Hòn Tháp, Hồ Bấc, Bình Long, Chỉ Tác, Chùa Cao, Hang Non, Hang Dong, Ổ Lợn, Đồng Vành... và các đền: Hạ, Trung, Thượng... Đây phần nhiều là cơ sở tự viện của Phật giáo Trúc Lâm thời Trần; một số di tích gắn với lịch sử chống Nguyên Mông xâm lược; một số di tích phản ánh sự dung hợp tinh thần tích cực của tín ngưỡng dân gian của Phật giáo Trúc Lâm với hàng chục ngôi tháp và hàng nghìn di vật cổ. Ngọc Mai (Tổng hợp) |
[links()]