Tôi đã từng ao ước một lần được đến Điện Biên để được trực tiếp ngắm nhìn hoa ban nở. Và hơn thế, được thấy điểm đồi A1, cánh đồng Mường Thanh, cứ điểm Him Lam, đồi Độc Lập, Hồng Cúm... nơi đã ghi dấu bao chiến thắng oanh liệt của quân và dân ta trong chiến dịch Điện Biên Phủ lẫy lừng. Niềm mong ước ấy của tôi đã được toại nguyện. Mảnh đất và con người nơi ấy đã cho tôi biết bao cảm xúc, ấn tượng.
Trắng trời hoa ban
Biết tôi được tham gia đoàn công tác lên Điện Biên, anh bạn tôi, người đã vài lần đến Điện Biên, bảo: “Lên Điện Biên vào dịp này đúng thời điểm hoa ban nở rộ. Em sẽ chẳng thể quên những cánh rừng ban nở trắng một góc trời”. Quả thật, chỉ vừa mới đặt chân lên vùng Tây Bắc, đến các tỉnh Sơn La, Lai Châu, chúng tôi đã được chiêm ngưỡng rất nhiều hoa ban. Nhưng hoa ban có nhiều hơn cả vẫn là ở Điện Biên. Hoa ban trải ra khắp vùng núi non Điện Biên, nở trên bờ sông Nậm Rốm, Nậm Na, nở thành rừng hoa ở khu vực đèo Pha Đin, khu chỉ huy Mường Phăng, nơi Đại tướng Võ Nguyên Giáp chọn làm Sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ…
Đứng trên đỉnh đèo Pha Đin, ngắm hoa ban nở, tôi cố gắng hít một hơi đầy lồng ngực cái mùi thơm của núi rừng Tây Bắc thoang thoảng bay trong gió. Tôi nghĩ, kể cũng lạ, đây là loài thân gỗ, có thể mọc ở mọi nơi từ đất đồi đến kẽ đá, vậy mà cánh hoa thật mỏng manh. Phải chăng với đặc tính này mà hoa ban đã được gắn với một truyền thuyết và trở thành biểu tượng cho tình yêu thuỷ chung, bất diệt. Tương truyền rằng, ngày xưa có cô gái dân tộc Thái tên là Ban. Cô thà chết chứ không chịu bỏ người thương để lấy chồng giàu. Chàng Khun, người yêu của Ban, đi tìm người yêu trong rừng thẳm, nước mắt chàng rơi xuống đất ở đâu, nơi ấy mọc lên cây ban, hoa trắng mùa xuân. Vì thế, hoa ban còn được người Thái gọi là hoa lả (lả nghĩa là yêu, là quý). Hoa ban đã trở thành biểu tượng, niềm tự hào của người Điện Biên. Hoa ban giờ không chỉ để ngắm, để tô điểm thêm cho nét đẹp của núi rừng, của phố phường Điện Biên, mà dưới tài năng, sự khéo léo của các cô gái Thái, hoa ban còn được chế biến thành món ăn nhiều người thích. Chả thế mà cô chủ quán cắt tóc gội đầu ở con phố mang cái tên khá đặc biệt - phố 15m của TP Điện Biên Phủ, cứ tiếc hùi hụi thay cho chúng tôi khi biết chúng tôi phải rời khỏi Điện Biên chỉ trước ngày diễn ra lễ hội hoa ban có 1 ngày…
Công dân “nhí” ở Mường Phăng
Điểm đầu tiên chúng tôi ghé thăm trong lịch trình ở Điện Biên là khu chỉ huy Mường Phăng. Trong lúc ở Quảng Ninh đang dầm dề với những cơn mưa phùn, độ ẩm lên tới 100%, thì Điện Biên trời lại đổ nắng. Cái nắng gay gắt, đỉnh điểm có lúc lên tới 36-37 độ C. Những cô gái Thái như già đi với vẻ mặt rám nắng và búi tóc tròn trên đầu (gọi là tăng cẩu, thể hiện người phụ nữ dân tộc Thái đen đã có chồng), địu con ngồi bên vệ đường bán cây măng, củ nứa, nắm mộc nhĩ vừa được hái trong rừng để kiếm thêm vài đồng cải thiện bữa ăn. Thế mới biết, rừng Điện Biên xưa “che bộ đội”, “vây quân thù” thì nay đang là nguồn sống của biết bao đồng bào dân tộc.
Khu chỉ huy Mường Phăng nằm tít sâu trong khu rừng rậm. Ngay ở lối vào của khu di tích có một đám trẻ vui đùa. Điều lạ là, gặp ai, chúng cũng khoanh tay, cúi chào lễ phép. Một cậu bé nhìn đoàn chúng tôi rồi bắt chuyện: “Các cô, chú cứ đi đi ạ! Từ đây vào đến hầm Đại tướng còn 800m nữa”. Một thành viên trong đoàn tôi đùa bảo: “Cháu dẫn đường, các cô chú có phải trả tiền không?”. Cậu bé lễ phép: “Dạ, các cô chú trả bao nhiêu cũng được hoặc không cần trả cũng được ạ!”.
Nói rồi, cậu bé thoăn thoắt bước đi. Đến đâu cậu cũng thuyết minh vanh vách như một hướng dẫn viên thực thụ: “Chỗ này là nơi làm việc của cụ Hoàng Đạo Thuý, Trưởng Ban Thông tin chiến dịch. Chỗ kia là hầm Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Nơi đây là cây bưởi 60 năm tuổi do chính Đại tướng trồng khi nhân dân tỉnh Phú Thọ tặng. Hầm của Đại tướng dài 69m, rộng 1,3m, cao 1,8m… Năm 2004, cụ Võ Nguyên Giáp lúc ấy 93 tuổi đã quay trở lại thăm nơi này. Máy bay chở cụ đỗ ngoài ruộng đằng kia ạ! Lần ấy, bà con ở đây đã tặng cụ 8 cái chăn, 8 cái chiếu và 16 chai mật ong…”.
“Sao cháu lại có thể thuộc vanh vách những điều cháu vừa kể?” - Tôi bắt chuyện. Cậu bé trả lời: “5 tuổi, cháu đã theo cậu họ đi theo các cô hướng dẫn viên ở đây rồi ạ! Nghe các cô ấy thuyết minh cho các đoàn khách vài lần là cháu nhớ. Với lại chuyện về cụ Giáp ở đây ai cũng biết, ai cũng tự hào ạ!”. Câu chuyện giữa tôi và cậu “hướng dẫn viên nhí” càng trở nên thân thiện, hào hứng. Cậu bé cho biết: “Cháu tên là Lò Văn Lợi, 11 tuổi. Nhà cháu cách đây 5 cây số. Mẹ cháu bán củ tam thất ở ngoài cổng khu di tích này”. Tôi không tin là Lợi 11 tuổi, vì nhìn cậu bé còn bé hơn cậu con trai 8 tuổi của tôi, nhưng Lợi khẳng định: “Cháu đang học lớp 4 ạ! Cháu “làm” ở đây lâu nhất và gần như lớn tuổi nhất trong các nhóm ở đây”. Theo Lợi kể, có những ngày đông đoàn khách đến thăm khu di tích, cậu phải vòng đi vòng lại tới 5-6 lượt, nhưng đấy cũng là ngày cậu và các bạn không ít lần phải chạy trốn bảo vệ. Mỗi đoàn khách cậu hướng dẫn có khi cho cậu 10.000 đồng, 20.000 đồng, thậm chí chỉ là 2.000 đồng hoặc 5.000 đồng. Số tiền kiếm được Lợi lại mang về đưa mẹ mua gạo, sách, vở cho năm học mới.
Âm vang những địa danh
Các đồng nghiệp Báo Điện Biên Phủ còn dẫn chúng tôi tham quan một số địa danh gắn với những trận chiến lịch sử được nhiều người biết đến như: Đồi A1; Mường Thanh; khu trung tâm đề kháng Him Lam; Hồng Cúm, hầm Đờ-Cát; Nghĩa trang Độc Lập; Tượng đài chiến thắng; Bảo tàng chiến thắng Điện Biên Phủ. Trong đó, Nghĩa trang Độc Lập rộng khoảng 5ha, là nơi an nghỉ của 2.432 liệt sĩ nhưng hầu hết các ngôi mộ ở đây không có tên. Bảo tàng chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ nằm đối diện với Nghĩa trang liệt sĩ Đồi A1, nơi có 644 ngôi mộ của các chiến sĩ vô danh, nơi lưu giữ trưng bày 274 hiện vật và 202 bức ảnh tư liệu trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ. Cô hướng dẫn viên giọng sang sảng giới thiệu: “A1 là ký hiệu quân ta đặt cho quả đồi này. Sau trận chiến lịch sử kéo dài 39 ngày đêm diễn ra ở đây thì đến 4h sáng ngày 7-5-1954 quân ta đã chiếm được đồi A1. Đồi A1 gồm 2 đỉnh: Tây Bắc cao hơn 490m, Đông Nam cao hơn 493m. Trước khi thực dân Pháp chiếm đóng, nơi đây là rừng rậm hoang vu, nhưng sau đó nó đã bị thực dân Pháp biến thành đồi trọc để dễ dàng ngăn chặn sự chống lại của quân và dân ta. Đây cũng là cứ điểm quan trọng bậc nhất trong Tập đoàn cứ điểm của thực dân Pháp ở Điện Biên Phủ. Hiện trên đỉnh Tây Bắc của đồi A1 có đài kỷ niệm được xây theo kiểu “Tam sơn”; xác một trong 2 chiếc xe tăng nặng 18 tấn mà tên Quan Ba Hécvuê đưa từ trung tâm Mường Thanh lên để phản kích quân ta. Ngoài ra, còn có những chứng tích lịch sử khác như hệ thống dây thép gai, đường hầm, hố bộc phá…”. Giọng cô hướng dẫn viên chợt trùng xuống: “Mỗi tấc đất, mỗi ngọn cỏ nơi đây thấm không biết bao xương, máu của chiến sĩ, đồng bào ta. Vì nơi đây đã có ít nhất 2.000 chiến sĩ của quân đội ta hy sinh”…
Đứng trên điểm cao nhất của đỉnh Đồi A1, theo cánh tay cô hướng dẫn viên chỉ, chúng tôi phóng tầm mắt ra xung quanh. Từ nơi này chúng tôi có thể nhìn thấy Nghĩa trang Đồi A1, cánh đồng Mường Thanh, sân bay Mường Thanh; thậm chí là cả khu chỉ huy Mường Phăng… Những địa danh ấy, những cái tên ấy sẽ trường tồn với lịch sử của dân tộc. Và đó cũng là niềm tự hào của thế hệ trẻ hôm nay.
Men theo những đoạn đường được đổ bê tông hoặc xếp bằng gạch, đoàn chúng tôi rời Đồi A1, mỗi người mang theo một tâm trạng bùi ngùi xúc động, tự hào…
Cẩm Nang