Từ lâu tôi biết Đỗ Kha là một nghệ sĩ nhiếp ảnh. Tình cờ đọc trường ca “Bạch Đằng giang” của ông mới thực sự ngạc nhiên và xúc động trước bút lực của một người đã ở vào tuổi bát thập.
Chậm rãi đọc 140 trang sách, qua 13 chương ta hình dung đầy đủ về trận chiến lịch sử thứ ba trên sông Bạch Đằng. Chương mở đầu tác giả khái quát về dòng sông hiền hòa thơ mộng như trăm ngàn con sông bình thường khác. Xuất xứ con sông hiện ra bằng một hình tượng thơ đẹp: “Đất nước/ Xòe 6 cánh hoa/ Thành 6 con sông chảy ra cửa bể/ Thành sông Bạch Đằng”.
Chương 2 tác giả lột tả kẻ thù từ cội nguồn đến tham vọng hung bạo, man rợ, ngông cuồng. Thành Cát Tư Hãn nổi bật tính cách cuồng bạo tàn ác coi thường mọi văn minh, văn hóa. Thành Cát Tư Hãn tự bạch: “Ta đi từ Nội Mông sang châu Á, Trung Á, Nga, Ba Tư, hành sự theo ý trời/ Ta, ngươi kể chuyện nghìn lẻ một đêm bằng máu và nước mắt/ Ta là Thành Cát Tư Hãn vua của Nội Mông”.
Trái lại các chương 3, 4, 5 tập trung khắc họa nhân cách vĩ đại của Quốc công tiết chế Trần Hưng Đạo, nhà chiến lược thiên tài, nhà quân sự lỗi lạc. Ông còn có một tâm hồn yêu quê hương đất nước, yêu tự do thanh bình, ngày đêm nung nấu kế sách bảo vệ xã tắc. Bộ óc lớn ngày đêm không nghỉ, suy tư chiến lược diệt thù: “Đêm đã khuya sông Kinh Thày chợt sáng/ Ôm ánh vàng chảy dọc con đê/ Hưng Đạo vương ôm tập giấy cuộn tròn/ Xếp vào rương, gối đầu lên tráp ngủ”. Quyết tâm đánh giặc của ông được bắt nguồn từ trong máu của dân Đại Việt: “Đã bao đêm rồi thức trắng/ Hưng Đạo vương thiếp đi trong giấc ngủ/ Chập chờn sang sảng giọng ai ngâm/ “Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”.
Thế trận chiến tranh nhân dân được tác giả đặc tả ở chương 6 và chương 7. Đến mỗi khúc hát ru của rừng cũng thúc giục: “Đất nước/ Gọi tên là đã thấy rừng/ Sông Rừng, bến Rừng, đò Rừng, giếng Rừng”, “Rừng cũng đau như người từng đau/ Nhưng vì nước cây cũng đầu quân ra trận đánh giặc”.
Các chương 8,9,10 và 11 khắc họa những chiến tướng của giặc vừa ngạo mạn chủ quan vừa tàn bạo, man rợ, ngu xuẩn. Chương 12 mô tả chiến thắng Bạch Đằng với cảm xúc hứng khởi đặc biệt. Đây là hình tượng hùng vĩ, oai linh của linh hồn trận quyết chiến chiến lược: “Hưng Đạo vương đứng trên gò đá nổi/ Cùng hai vua áo giáp nhẹ trên người/ Tán lá quếch che nghiêng thay tán lọng”. Khí thế đánh giặc sục sôi được miêu tả sinh động: “Lúc giặc Thát hung hăng, giết người, đốt nhà, cướp của/ Giờ như lũ kiến trên sông/.../ Đứa trúng tên chết đứng/ Đứa chết cháy như cây đuốc”. Thế trận quân ta tạo ra thật dữ dội: “Rừng cây ven sông rùng rùng chuyển động/ Những bụi cây hò hét hãi hùng/ Những bụi cây cũng biết thét: Sát Thát”.
Bản trường ca thành công có sự hấp dẫn, lôi cuốn. Đỗ Kha viết trường ca này khi đã 80 tuổi. Có lẽ vì thế mà ngôn ngữ thơ chưa nhuần nhị, nặng tính liệt kê, ít hình ảnh gợi tả, có khi là thiếu chuẩn xác. Một hạn chế nữa là hình ảnh 2 vua, nhất là vua Trần Nhân Tông hiện ra quá ít và hơi mờ nhạt.
Tóm lại, trường ca vẫn là một tác phẩm công phu thể hiện tác giả của nó là một người am hiểu lịch sử văn hóa, có kiến thức khá toàn diện sâu sắc. Tác giả thành công ở chỗ vừa bám sát lịch sử, phản ánh sinh động lịch sử vừa có những sáng tạo riêng. Tác phẩm rất bổ ích cho việc giáo dục lòng yêu nước, chủ nghĩa anh hùng bất khuất, trí tuệ sáng suốt của dân tộc Việt Nam ta. Ở tuổi bát thập mà viết được như Đỗ Kha là rất đáng nể trọng, động viên.
Lê Duy Thái (CTV)