Mùa trắng

LTS: Tính đến thời điểm này, Vũ Thảo Ngọc là nhà văn nữ duy nhất của Quảng Ninh được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam. Chị đã xuất bản hàng chục tập sách viết về vùng đất và con người Quảng Ninh, nơi chị đã gắn bó và coi là quê hương thứ hai của mình. Vốn xuất thân, trưởng thành từ công nhân mỏ nên Vũ Thảo Ngọc thường viết về những thợ mỏ với những xúc cảm chân thành yêu thương. Truyện ngắn của nhà văn Vũ Thảo Ngọc vì thế mà chân thực, giàu vốn sống. Quảng Ninh Cuối tuần số này xin giới thiệu một sáng tác mới của chị.
 


      Làng Bội ở ven một quả đồi thoai thoải, ở lưng quả đồi ấy có một cái nhà thương có từ thời thuộc Pháp. Dưới chân quả đồi hình bát úp ấy là dòng sông Cổ Cò. Những đứa trẻ của làng Bội đều sinh ra ở cái nhà thương ấy, lâu dần có vài gia đình y tá, hộ lý làm nhà cạnh nhà thương sinh sống, thành một xóm, nên người ta gọi luôn xóm Nhà Thương. Chúc lớn lên thì cái nhà thương cạnh làng Bội cũng biến mất. Người ta chen lấn làm nhà, sau mấy mươi năm thì trở thành khu công nghiệp khổng lồ.
Cái xóm mới mọc lên khá sầm uất thay thế luôn cái xóm Nhà Thương thưa thớt ngày xưa. Những đứa trẻ con ở xóm ấy đã thành những ông bà già. Những đứa trẻ này già lại đến những đứa trẻ khác. Xóm Nhà Thương có hồn ma chỉ còn trong ký ức của làng Bội. Chúc cũng đi khỏi làng và trở thành một nữ bác sĩ giỏi giang của An Hải, thi thoảng cô vẫn về Bội.
Hôm nay Chúc về làng, bỗng nhiên cô rùng mình khi đi qua xóm Nhà Thương. Ngày nghỉ, cô tranh thủ về hương khói cho các bậc sinh thành, chơi với các gia đình họ hàng một chút rồi lại về An Hải. Vậy thôi, đường về quê gần nên không có ý định ở lại qua đêm. Nhưng bất chợt một việc xảy đến khiến Chúc phải ở lại làng Bội đêm ấy. Cả đêm làng Bội nhốn nháo vì nhà lão Tuy có đứa con trai đi chơi ở làng trên về, xe máy đang chạy tự dưng đến cổng làng đâm luôn vào cổng làng, người bay lên, xe đổ ra, xăng đổ ra, lửa bén, cháy um một góc làng, thằng bé đó, mới mười sáu.
Chúc nghe nói nó là đứa trẻ hư, đã biết “hít cỏ Mỹ”  từ năm mười ba. Xe máy chưa đến tuổi được sử dụng nó cũng cứ lấy chạy như thường. Lúc xảy ra sự việc là lúc Chúc định rời nhà về thành phố thì người dì hớt hải chạy sang gọi đến cấp cứu cho nó.  Người ngợm thằng bé nằm bẹp dí trên cái giường tồi tàn. Chúc bó tay. Mẹ nó, bố nó, các ông bà khác tru tréo khóc nó sau khi Chúc nói, thằng bé đã không qua khỏi. Chúc buồn bã. Xóm Nhà Thương đèn đuốc sáng trưng nhưng Chúc cứ như thấy cả tảng trắng đu đưa trên đầu.

Một nỗi nén chặt trong trái tim gì đó không cắt nghĩa nổi khi một người bà con trong xóm rỉ tai Chúc. Xóm này bị đứt động mạch rồi cô ạ. Tháng trước thằng cu nhà Xích cũng đi xe máy về đến đầu xóm, tự dưng đâm trúng cái cột mốc, đầu vỡ toác, dân xóm ra cứu cứ tưởng người thiên hạ đi qua đây, ai dè cu con nhà Xích, cũng chỉ một tẹo là ngoẻo, nó mới hai mươi. Tháng trước nữa, cũng có một thằng mới hăm mốt, hăm hai gì đó đi xe máy từ xóm ra đường quốc lộ, phía giáp con lộ phía đi An Hải ấy, chả hiểu sao đâm rầm vào cái đuôi xe. Hãi hãi là, đúng là xóm Nhà Thương có điềm xấu. À, cô biết không, xóm Nhà Thương giờ còn gọi xóm ung thư nữa, cô là bác sĩ, cô xem có giúp gì được dân làng không, chứ ai đời, nhà ông Xích đã nghèo không thể nghèo hơn giờ lại còn kéo nhau ung thư. Thằng cu đâm xe vào cột mốc chết hôm nọ là nó đi xuống viện chăm mẹ nó, chắc đầu óc không tỉnh táo nên mới ra nỗi ấy. Nó chết, mẹ nó cũng chết. Chả hiểu con sâu, con bọ nào chui vào mà đục hết cả mớ nhà ấy kinh hãi thế. Hai vợ chồng thằng con cả chết năm ngoái rồi, giờ đến vợ chồng đứa con gái, rồi ông bà ấy đều bị mắc cái chứng đó. Còn mấy nhà bên kia sườn đồi của xóm Nhà Thương nữa cơ, nhà nào cũng đóng góp người bị ung thư, hãi lắm cô ạ. Đang tươi đang tốt, cứ lăn đùng ra với cái bệnh quái quỷ ấy. Hay là ăn nước mà nó ra hả cô. Hay là ngày xưa đây là xóm nhà thương, chắc có nhiều linh hồn chết oan nên giờ họ oán dân xóm cô nhỉ. À, cô còn nhớ, chả có một dạo cả xóm bị đại dịch vì cái thứ tiên nâu, tiên na nữa chứ. Nhà lão Mậu xóm Đông chả chết cả ba thằng con trai đang tuổi ăn tuổi lớn. Nhà lão Đức xóm Đoài cũng tiêu mất hai thằng. Đận ấy cả làng cũng náo loạn một phen. Cứ như những bóng ma trắng lơ lửng trên giời. Chúc lắng nghe người họ hàng nói, lòng nặng những ưu tư.
Cứ tưởng rồi chả ai dám đến ở cái xóm Nhà Thương này nữa. Còn bây giờ thì hàng loạt các nhà máy đã đến đây cắm đất. Thêm cả một nhà máy xử lý rác thải của thành phố An Hải cũng vừa lắp đặt xong ở sát mé con sông Cổ Cò, bên dưới xóm Nhà Thương ấy. Chả hiểu sao người ta lại cứ lấy phía này đặt các nhà máy. Nhưng mà cũng có cái hay, có nhà máy, làng quê cũng có những thay đổi nhanh, nhất là đám thanh niên. Cánh cổng các nhà máy ấy đã mở toang cho bọn trẻ vào, nên chả đứa nào hào hứng đi học đại học, nuôi những giấc mơ to lớn, những hoài bão khổng lồ như thời của Chúc nữa. Đám thanh niên ấy đã có việc làm sớm, đã có tiền sớm, tức là có lưng vốn sớm ngay khi mới chớm tuổi đôi mươi. Sự tò mò về xã hội công nghiệp, sự hấp dẫn từ phim ảnh thời công nghiệp, những hình ảnh trai xinh, gái đẹp, người mẫu, soái ca đã hiện ra khắp làng trên xóm dưới. Và hình ảnh cô thôn nữ dịu dàng thướt tha với áo lụa, quần lĩnh không còn nữa. Về làng giờ chỉ nhìn thấy các em, các cháu cũng xanh đỏ rộn ràng như ở thành phố mất rồi. Đôi khi Chúc thấy mình bị tụt hậu. Tự dưng thấy những chuyện nghịch lý. Mỗi khi có việc ở quê thấy Chúc xuất hiện giản dị còn hơn các mợ, các thím ở làng, có người khen Chúc giản dị, có người chê Chúc lạc hậu chứ ai đời người ở thành phố cả đời mà nhìn như... nhà quê. Chúc tự nhận thấy mình là như thế, chỉ cười, ô hay, mình sinh ra và lớn lên ở Bội mà.
Thời thanh niên, mỗi Chúc đỗ đại học Y Hà Nội, cả làng, cả huyện lấy Chúc là tấm gương cho em họ. Đến khi về công tác tại bệnh viện tỉnh, cả làng, cả huyện ai đến viện tỉnh đều cầu cạnh Chúc. Không giống như ai đó đòi hỏi này khác, hễ có ai nhờ là Chúc hết lòng giúp họ. Nếu đúng chuyên khoa xương khớp mà Chúc phụ trách thì khỏi phải nói, nhưng vào các khoa khác thì Chúc nói với đồng nghiệp giúp người làng rất chu đáo. Chúc vẫn là một người được bạn bè mến mộ, đồng nghiệp quý trọng vì cái đức độ nghề nghiệp ấy. Cuộc sống có lẽ cũng chả có gì phải bàn cãi với Chúc nữa, vì chị đã có một cuộc sống khá ổn so với mặt bằng xã hội, các con đã trưởng thành, đứa theo nghiệp mẹ, đứa theo nghiệp cha. Đàn cháu nội ngoại sum vầy, hỏi thế còn gì hơn nữa. Nhưng hôm nay ở làng, Chúc lại thấy nhói lên những điều không cắt nghĩa được. Những bóng ma trắng cứ lởn vởn trong đầu khi chị nghĩ về xóm Nhà Thương, về Bội.
    Từng ấy năm đi công tác, xa làng Bội không phải lâu về thời gian, dài về quãng đường mà sao chị thấy như mình mắc lỗi. Chị có nghề, chị có cơ hội để giúp làng mà sao chị chưa làm được cái gì cho ngôi làng thân yêu nhỏ bé ấy để làm sao sớm đuổi được những bóng ma trắng lởn vởn kia thời bây giờ, chứ không chỉ là bóng ma trắng của các linh hồn hài nhi vô thừa nhận thuở xa xưa. Đó chính là những ngọn khói, dòng nước đục hóa chất tuồn từ những nhà máy bên xóm Nhà Thương kia. Có gì đó là cho tim chị thắt lại, ờ, ung thư, ung thư, ung thư… Những tiếng kêu thất vọng, người xóm trên, xóm dưới hôm trước còn nguây nguẩy, hôm sau đã có tin người ấy bị ung thư giai đoạn cuối, là án tử rồi, chả chữa được đâu, lo hậu sự đi thôi, đó là những lời cửa miệng của cư dân trong làng mỗi khi ai đó nhắc đến một người làng nữa lại điểm danh bệnh hiểm ác ấy. Sự sống thật mong manh. Sự sống như trò đùa, hiện hữu đấy mà lại thành ra vô nghĩa lắm. Cứ định liệu thế này, thế kia nhưng rồi chả có cái gì định được, tất cả chỉ là giấc mơ không bao giờ thành hiện thực…
Chúc nghĩ về xóm Nhà Thương, nghĩ về những nhà máy nằm quanh xóm ấy, nằm quanh làng Bội của chị và rùng mình. Cảm giác ớn lạnh dọc sống lưng. Đúng là không thể tưởng tượng điều gì sẽ xảy đến nữa khi mà cùng một thời gian ngắn người ở xóm Nhà Thương đều bị rơi vào những tai ương khó lý giải ấy. Chúc chợt nhớ ngày xưa, mẹ chị vẫn kể bên cái Nhà Thương ấy, người ta đưa về nhiều người bị chết đói lắm, cả bị dịch tả nữa, rồi họ vào đó, chả biết có chữa được không, nhưng không thấy họ ra, chỉ thấy có nhiều những ngôi mộ lúp xúp phía bên kia quả đồi nhìn về An Hải ấy mỗi ngày một dầy lên. Dân làng Bội đố dám bén mảng tới mé đồi bên ấy nhé, vì các cụ bảo đó là nơi tổ của những con ma không nơi nương tựa. Bọn trẻ con ngày ấy như Chúc lúc nào cũng mang nỗi sợ đến tè ra quần nếu ai đó nói phạt gì đó sẽ cho qua cánh mả ấy một đêm là chết luôn cùng với cái tổ ma ấy. Bây giờ, sau khi đã rời khỏi Bội cả mấy mươi năm, lại thấy rùng mình vì lời dọa ma ngày ấy, nhưng là nỗi sợ khác. Là cảm giác lạnh lẽo đang len lỏi vào tim, vào óc những người ở quê Chúc, đó là những đám trắng lửng lơ khác, những mùa trắng khăn tang của những người chết trẻ, của những linh hồn chưa kịp định liệu gì đã phải rời bỏ cuộc sống này. Ai cũng biết bệnh tật thì phải chữa, nhưng không có nghĩa cứ đến bệnh viện là chữa được, là bác sĩ, chị luôn thấm thía điều ấy. Nhìn những bệnh nhân ung thư ngày càng nhập viện nhiều, chị thấy xót xa, bất lực với những ca bệnh ấy. Mỗi lần nghĩ về làng Bội, về xóm Nhà Thương, lại lởn vởn trong đầu chị những bóng trắng lơ lửng. Nhiều khi chị thốt lên một mình như bị ma ám với những câu không đầu, không cuối, hình như chị đã đọc, đã nghe ở đâu đó, của thi nhân hay của một bệnh nhân nào cũng không biết nữa. Những câu ca chờn rợn, chấp chới, bi phẫn, bất lực với căn bệnh quái ác bỗng nhiên đổ ập vào cuộc đời họ.
Những lúc như thế, chị giật mình thảng thốt, chị vẫn cố gắng có thể góp được chút gì đó cho những người bệnh mà chị vẫn ngày ngày đến bên họ, vẩn vơ trong đầu chị cái màu trắng khăn tang của bọn trẻ con khi cha mẹ chúng không chống chọi được với căn bệnh quái ác ấy. Cái màu trắng thực sự là nỗi ám ảnh đến lạnh người của chị mỗi khi nghĩ về nó. Chị cũng thầm khấn trời, cầu Phật hãy cho họ sự an nhiên, hãy cho họ những mùa hạnh phúc, chứ không phải những mùa bệnh bạc trắng mái đầu, bạc cả lòng dạ khi mang căn bệnh vô phương cứu chữa ấy. Mỗi lần ghé qua khoa u bướu là một lần chị không khỏi xót xa cho họ. Mỗi lần như thế, chị lại nhớ về làng Bội, về xóm nhà thương, về những nhà máy và những ống khói nghễu nghện giữa triền đồi bên khúc sông Cổ Cò giờ bị thu lại còn vỏn vẹn như một cái bát úp giữa bộn bề kiếp người đang ngụ ở đó. Những dòng sông bị chặn lại, những cánh đồng không mùa, những con đường to và cánh cổng lớn vào nhà máy mà đám thanh niên mỗi sáng chui tọt vào đó đến tối mịt mới về. Đồng lương của họ được đảm bảo có tiền ngay trong những tấm thẻ ngân hàng vuông vức nằm chắc nịch trong túi. Chứ cứ như thời ông bà họ, cả năm quanh quẩn hai vụ lúa, chắt chiu lắm cũng không bỏ dư ra đồng nào. Câu cửa miệng khi mỗi đứa trẻ ra đời đều nhận được từ bà, từ mẹ là phải thắt lưng, buộc bụng, phải căn cơ thu vén, phải chi li từng đồng để duy trì cuộc sống của mỗi nhà. Giờ nhiều thứ thừa thãi quá. Manh quần tấm áo giờ lúc nào cũng ứ đầy chợ, các cô, các chị lúc nào cũng đẹp như đi lễ hội. Cuộc sống thay đổi đến ngỡ ngàng, vì thế Chúc đã được đồng nghiệp trêu là bị miễn nhiễm với mọi sự thay đổi là thế.
Mỗi lần chị về làng Bội là một lần ngỡ ngàng, các thôn nữ đã bỏ qua hai từ “tân tiến” mà ngày xưa các cụ nói về sự tiến bộ của nông thôn. Giờ thì mọi sự đã không còn ở mốc ấy nữa, nó đã đi xa lắm rồi. Thời bố chị còn sống, cụ hay bảo khi nào hòa bình được ăn cháo cũng sướng, giờ ước mơ ấy cũng đã thành cổ tích. Vì đời sống ở làng đã quá ư thuận lợi, ngày xưa chị xa nhà với bao nhung nhớ, còn bây giờ thanh niên mỗi sáng rời khỏi nhà thì chiều tối họ đã trở về nhà sum họp quây quần cùng cha mẹ, vợ con, sự xa cách bây giờ cũng không còn đủ thời gian dành cho sự nhớ nhung nhau như ngày xưa nữa. Làng cũng đã dần dần thay hình đổi dạng với cơ man các kiểu nhà to đẹp, mốt thời thượng, sáng ra mở cửa không nhìn thấy cánh đồng, không có hương lúa thơm dìu dịu nữa, mà là các quán ăn, quán nhậu rổn rảng tiếng nói cười. Là những hình bóng khác thay thế hoàn toàn hình bóng của làng ngày xưa. Chúc vẫn nghĩ đó cũng là những mùa trắng của làng quê, vì lẽ diện mạo quê đã được thay bằng diện mạo của phố thị từ lâu rồi, vì thế quê chỉ là ký ức, tìm về quê cũng là những mùa trắng không còn dư âm của ngôi làng thật sự nữa.

Làng Bội giờ như phố, nửa làng, những con ngõ có tre trúc không còn, những con đường lát gạch nghiêng đã được thay thế bằng đường bê tông phẳng lì. Đến ngôi chùa làng thấp bé lấp ló bên vườn nhãn cổ thụ cũng có người về xin công đức biến thành một ngôi chùa với kiến trúc lạ lẫm, màu sắc lòe loẹt, tường cao, cổng lớn... có lẽ tiếng chuông chùa cũng đã khác, vì nghe đâu đám trẻ kể, ông sư thầy còn tuổi thanh niên bị “gay”, giọng ẻo lả đàn bà, lại toàn mê trai đẹp, hư thực thế nào chả rõ nữa. Lễ tục đám ma thì lẫn cả kèn đồng bên Công giáo với phường kèn của Phật giáo. Đám cưới thì cô dâu mặc váy tây đội nón lá về nhà chồng, cỗ đám có cả thịt chó và thịt bê. Chúc chợt thảng thốt khi nghĩ về Bội, về xóm Nhà Thương, hình như mùa thu vừa cạn...
                                                                                        

Truyện ngắn của Vũ Thảo Ngọc

Cùng chuyên mục