Ngay từ những tháng đầu năm 2026, ngành Ngân hàng trên địa bàn Quảng Ninh đã chủ động điều hành chính sách tiền tệ theo hướng linh hoạt, kiểm soát rủi ro nhưng vẫn đảm bảo mở rộng tín dụng hợp lý. Dòng vốn gia tăng về quy mô, đồng thời được định hướng chảy mạnh vào khu vực sản xuất - kinh doanh và kinh tế tư nhân, qua đó góp phần khơi thông các "điểm nghẽn" về vốn, tạo lực đẩy quan trọng cho tăng trưởng kinh tế địa phương.
Điều hành linh hoạt, khơi thông dòng vốn tín dụng
Trong những tháng đầu năm 2026, Ngân hàng Nhà nước Khu vực 6 thể hiện rõ vai trò "nhạc trưởng" trong điều hành chính sách tiền tệ trên địa bàn. Không chỉ bám sát chỉ đạo của Trung ương và của tỉnh Quảng Ninh, đồng thời chủ động cụ thể hóa bằng các giải pháp linh hoạt, phù hợp với thực tiễn. Cách tiếp cận điều hành không dừng ở việc đảm bảo mục tiêu tăng trưởng tín dụng mà hướng mạnh vào ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát rủi ro hệ thống và nâng cao chất lượng dòng vốn, qua đó tạo nền tảng vững chắc cho phát triển kinh tế - xã hội.
Đơn vị đã ban hành và triển khai Kế hoạch số 11/KH-KV6 ngày 28/1/2026, xác định rõ các trụ cột điều hành của ngành Ngân hàng trong năm 2026. Trọng tâm xuyên suốt là mở rộng tín dụng có chọn lọc, gắn chặt với nâng cao chất lượng tín dụng và khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế. Dòng vốn được định hướng tập trung vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên và những động lực tăng trưởng then chốt của tỉnh. Song song với đó, Chi nhánh thúc đẩy mạnh mẽ quá trình chuyển đổi số, phát triển các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng hiện đại, qua đó rút ngắn khoảng cách tiếp cận vốn và dịch vụ tài chính giữa các khu vực, các nhóm đối tượng trong xã hội.
Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước Khu vực 6 cũng yêu cầu các tổ chức tín dụng chủ động đồng hành cùng người dân và doanh nghiệp. Các giải pháp hỗ trợ được triển khai theo hướng thực chất và kịp thời, từ việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ, hỗ trợ khách hàng chịu ảnh hưởng bởi thiên tai, bão lũ đến việc tiết giảm chi phí hoạt động để ổn định mặt bằng lãi suất cho vay. Cải cách thủ tục hành chính được đẩy mạnh theo hướng đơn giản, minh bạch, giúp rút ngắn quy trình cấp tín dụng. Các chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp diễn ra thường xuyên, tạo kênh đối thoại trực tiếp, qua đó tháo gỡ điểm nghẽn trong tiếp cận vốn và nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực tài chính.
Ngay từ đầu năm, Ngân hàng Nhà nước khu vực 6 đã chỉ đạo các tổ chức tín dụng trên địa bàn chủ động cân đối nguồn vốn, mở rộng tín dụng gắn với kiểm soát chất lượng, ưu tiên vốn cho các lĩnh vực sản xuất kinh doanh và động lực tăng trưởng của tỉnh. Đến ngày 28/2/2026, tổng dư nợ tín dụng trên địa bàn tỉnh đạt khoảng 232.000 tỷ đồng, tăng 3,7% so với cuối năm 2025 và tăng 14,5% so cùng kỳ. Trong đó, dư nợ ngắn hạn đạt 123.000 tỷ đồng (chiếm 53%), dư nợ trung và dài hạn đạt 109.000 tỷ đồng (chiếm 47%). Đáng chú ý, dòng vốn tín dụng tiếp tục tập trung chủ yếu vào khu vực kinh tế tư nhân, động lực quan trọng của nền kinh tế địa phương. Dư nợ cho vay khu vực kinh tế tư nhân đạt 206.250 tỷ đồng, chiếm 88,9% tổng dư nợ, trong khi khu vực kinh tế nhà nước chiếm 11,1%.
Theo cơ cấu ngành kinh tế, tín dụng chủ yếu tập trung vào lĩnh vực dịch vụ - thương mại chiếm 72,7%; công nghiệp - xây dựng chiếm 24%; nông - lâm - thủy sản chiếm 3,3%. Trong đó, dư nợ cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa đạt khoảng 35.900 tỷ đồng, chiếm 15,5% tổng dư nợ, góp phần hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp duy trì và mở rộng sản xuất.
Ông Nguyễn Đức Hiển, Phó Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Khu vực 6, cho biết: Ngành Ngân hàng trên địa bàn tỉnh đang triển khai nhiều giải pháp để tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn tín dụng. Trọng tâm là ưu tiên vốn cho các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ và vừa, các ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh.
Song song với tăng trưởng tín dụng, hoạt động huy động vốn trên địa bàn tỉnh cũng duy trì xu hướng tích cực. Đến 28/2/2026, tổng vốn huy động đạt khoảng 254.000 tỷ đồng, tăng 1,5% so với cuối năm 2025 và tăng 11,8% so cùng kỳ. Trong đó tiền gửi thanh toán đạt 76.500 tỷ đồng; tiền gửi tiết kiệm đạt 171.250 tỷ đồng; phát hành giấy tờ có giá đạt 6.250 tỷ đồng. Mặt bằng lãi suất tiếp tục được duy trì ổn định. Lãi suất cho vay ngắn hạn phổ biến là 3,8-7,2%/năm, trong khi lãi suất trung và dài hạn dao động mức 7,5-10,8%/năm. Đặc biệt, các ngân hàng trên địa bàn đang đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, phát triển ngân hàng điện tử và thanh toán không dùng tiền mặt, góp phần nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính của người dân và doanh nghiệp.
Cùng với đó, các chương trình tín dụng chính sách và tín dụng ưu đãi tiếp tục được triển khai hiệu quả. Tổng dư nợ tín dụng chính sách đạt khoảng 6.200 tỷ đồng, góp phần hỗ trợ người dân phát triển sản xuất, cải thiện đời sống. Đối với chương trình tín dụng 120.000 tỷ đồng cho vay phát triển nhà ở xã hội, hiện tại Quảng Ninh đã có dự án tại khu vực Hạ Long với dư nợ cho vay chủ đầu tư khoảng 299 tỷ đồng, tạo điều kiện cho người dân tiếp cận nhà ở với chi phí hợp lý.
Đẩy mạnh chuyển đổi số và mở rộng tài chính toàn diện
Cùng với đó, đơn vị đã đẩy mạnh triển khai thực hiện các Nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới. Trong đó, chú trọng triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia năm 2026, đồng thời triển khai các chương trình, kế hoạch của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và tỉnh Quảng Ninh về thực hiện Đề án 06 về phát triển ứng dụng dữ liệu dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia.
Đặc biệt, lĩnh vực thanh toán không dùng tiền mặt trên địa bàn tiếp tục ghi nhận bước phát triển mạnh mẽ, trở thành một trong những điểm sáng nổi bật của quá trình chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng. Ngân hàng Nhà nước Khu vực 6 đã chỉ đạo các ngân hàng thương mại mở rộng hệ sinh thái thanh toán số theo hướng đồng bộ, liên thông và thuận tiện cho người dân. Không chỉ dừng ở các dịch vụ tài chính truyền thống, thanh toán không dùng tiền mặt đã được đẩy mạnh trong hầu hết các lĩnh vực thiết yếu của đời sống như dịch vụ công, chi trả an sinh xã hội, bảo hiểm, y tế, giáo dục, điện, nước... qua đó góp phần thay đổi thói quen thanh toán và nâng cao tính minh bạch trong quản lý tài chính.
Song hành với việc mở rộng hạ tầng thanh toán, đơn vị tích cực ban hành các văn bản chỉ đạo, yêu cầu các tổ chức tín dụng phối hợp chặt chẽ với các sở, ngành, địa phương để mở rộng tài khoản thanh toán tới từng nhóm đối tượng, đặc biệt là người hưởng chính sách an sinh xã hội, học sinh, sinh viên và người lao động. Nhiều chính sách ưu đãi về phí dịch vụ, miễn giảm chi phí giao dịch được triển khai đồng bộ nhằm khuyến khích người dân tiếp cận và sử dụng các phương thức thanh toán hiện đại, qua đó thúc đẩy tài chính toàn diện. Kết quả đạt được cho thấy bước tiến rõ nét cả về quy mô lẫn chất lượng. Đến ngày 28/2/2026, toàn tỉnh có khoảng 3,6 triệu tài khoản cá nhân, trong đó 2,7 triệu tài khoản hoạt động thường xuyên; tỷ lệ người dân từ 15 tuổi trở lên sở hữu tài khoản đạt khoảng 95%, thuộc nhóm địa phương có mức độ phổ cập dịch vụ tài chính cao trong cả nước.
Thanh toán không dùng tiền mặt đã hiện diện sâu rộng trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội: Gần như toàn bộ các khoản thu ngân sách nhà nước thực hiện qua ngân hàng; 100% giao dịch thanh toán tiền điện, 93,21% thanh toán tiền nước, toàn bộ cơ sở giáo dục và y tế chấp nhận thanh toán điện tử. Đáng chú ý, tỷ lệ chi trả an sinh xã hội qua tài khoản đạt 97,36%, trong khi 78,9% thủ tục hành chính do lực lượng công an thực hiện đã tích hợp thanh toán không dùng tiền mặt. Qua đó, góp phần nâng cao hiệu quả quản trị, giảm chi phí xã hội và thúc đẩy phát triển kinh tế số trên địa bàn.
Dù ghi nhận nhiều kết quả tích cực, hoạt động ngân hàng trên địa bàn vẫn chịu áp lực không nhỏ khi kinh tế thế giới tiếp tục biến động, tiềm ẩn nhiều rủi ro đối với thị trường tài chính - tiền tệ. Trong khi đó, nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh gia tăng nhanh, đặt ra yêu cầu cao hơn đối với hệ thống ngân hàng trong việc vừa mở rộng tín dụng, vừa giữ vững kỷ luật an toàn và hiệu quả sử dụng vốn. Trước bối cảnh đó, ngành ngân hàng xác định tiếp tục điều hành theo hướng chủ động, linh hoạt và có trọng tâm, nhằm khơi thông dòng vốn và phân bổ nguồn lực tài chính hợp lý cho nền kinh tế. Dòng tín dụng được định hướng tập trung vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh và những động lực tăng trưởng của tỉnh như công nghiệp chế biến, logistics, dịch vụ cảng biển và du lịch. Đồng thời, ngành Ngân hàng tăng cường các chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp, trực tiếp tháo gỡ khó khăn trong tiếp cận vốn, qua đó cải thiện khả năng hấp thụ vốn của thị trường.
Bà Nguyễn Thị Dung, Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Khu vực 6, cho biết, đơn vị sẽ tiếp tục bám sát định hướng điều hành của Ngân hàng Nhà nước Trung ương, triển khai đồng bộ các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp và người dân tiếp cận tín dụng thuận lợi hơn. Các tổ chức tín dụng chủ động tiết giảm chi phí hoạt động, giữ ổn định mặt bằng lãi suất, đồng thời ưu tiên phân bổ vốn vào các lĩnh vực sản xuất - kinh doanh, các ngành ưu tiên và các trụ cột tăng trưởng của địa phương. Song song với mục tiêu tăng trưởng, ngành Ngân hàng đặt kiểm soát rủi ro làm nguyên tắc xuyên suốt trong hoạt động cấp tín dụng. Các tổ chức tín dụng nâng cao chất lượng thẩm định, tăng cường giám sát sau cho vay và quản lý chặt chẽ các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro như bất động sản, trái phiếu doanh nghiệp, qua đó đảm bảo an toàn hệ thống và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Cùng với đó, quá trình chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng tiếp tục được thúc đẩy mạnh mẽ, gắn với phát triển thanh toán không dùng tiền mặt và đa dạng hóa dịch vụ tài chính hiện đại. Các tổ chức tín dụng đồng thời nâng cao năng lực quản trị, kiểm soát chặt chẽ chất lượng tín dụng và xử lý nợ xấu, tạo nền tảng cho hệ thống ngân hàng vận hành ổn định, an toàn và bền vững trong dài hạn.