Ông Lục Văn Bình, 53 tuổi, hiện ở thôn Khe Pụt Ngoài, xã Thanh Sơn (Ba Chẽ) từ lâu là người nặng lòng với văn hóa dân tộc Cao Lan của mình.
Ở Ba Chẽ hiện nay, dân tộc Cao Lan tập trung ở 4 thôn Khe Lò, Khe Pụt Trong, Khe Pụt Ngoài, xã Thanh Sơn và thôn Bắc Tập, xã Đạp Thanh. Về di sản văn hóa phi vật thể, dân tộc Cao Lan có nghi lễ cầu mùa, hát sình ca và lễ cưới mang dấu ấn đậm nét, riêng biệt.
Nhận thấy bản sắc văn hóa của dân tộc mình đang dần mai một, ông Lục Văn Bình đã và đang cố gắng lưu giữ, bảo tồn, truyền dạy lại cho thế hệ trẻ.
Ông Bình kể, năm 1984, ông đã học hát sình ca từ ông Nịnh Văn Sáu và ông Nịnh Văn Chay là người cùng thôn. Theo ông Bình, sình ca có nghĩa là ca hát, hát xướng giao duyên nhằm thể hiện và giao lưu tình cảm. Sình ca hát chay không có nhạc đệm kèm theo. Nội dung các bài hát thường để trao đổi tâm tình, hát mừng đám cưới, mừng nhà mới, năm mới. Hình thức hát đối đáp nam nữ. Đến nay, ông Bình đã sưu tầm và đặt lời mới được hơn 100 bài sình ca. Từ nhỏ, ông Bình còn được nghe các cụ kể lại nhiều câu chuyện cổ tích của người Cao Lan rất hay. Ông đã sưu tầm lại để làm nguồn tư liệu ngữ văn dân gian quý giá truyền dạy cho con cháu.
Nghệ nhân Lục Văn Bình hát sình ca.
Ngoài ra, ông Bình còn nắm rõ lễ cầu mùa, quy trình dựng nhà truyền thống, các món ẩm thực, nghề thủ công, lễ cưới và tang ma dân tộc Cao Lan. Theo ông Bình, lễ cầu mùa là tín ngưỡng quan trọng của người Cao Lan. Năm 1984, ông Bình học nghi lễ này từ chú ruột là cụ Lục Văn Quý (đã mất) truyền lại. Hiện nay, ông Bình vẫn thực hành tốt nghi lễ này.
Tương tự lễ cầu mùa, lễ cưới cũng là nét đặc sắc trong văn hoá của người Cao Lan. Người làm mối được gọi là bố mối, mẹ mối, có vai trò quan trọng trong việc se duyên. Các cặp vợ chồng trẻ coi ông mối, bà mối là bố mẹ thứ hai. Tết đến, họ phải đến chơi nhà bố mẹ mối, khi bố mẹ mối qua đời thì phải để tang như con cái trong gia đình. Các bước trong lễ cưới, ông Bình đã học từ cụ Nịnh Văn Sáu, thôn Khe Lò.
Chưa hết, ông Bình còn nắm giữ những tri thức dân gian quý giá trong việc dựng nhà ở truyền thống của người Cao Lan. Theo ông Bình, nhà sàn dân tộc Cao Lan gồm 16 cột chính, 4 cột phụ, nhà lợp bằng lá cọ, có 4 mái 2 mái thấp và 2 mái cao, 2 mái cao là nơi hướng cửa nhà chính, 2 mái thấp gọi là mái sườn. Bên trong nhà hình thành 4 gian phòng. Trong đó, ngay cửa vào là cao hơn 2 gian dưới khoảng 35 đến 45cm, gian này chia làm 2 gian ngủ và 1 gian đựng đồ, 3 gian còn lại có 2 gian, chia làm 3 gian ngủ, 1 gian làm bếp cộng chạn bát, 1 gian đựng cối xay thóc. Gian ngoài cùng làm kho đựng thóc và vật dụng trong nhà. Dưới gian thứ nhất thường là để cối giã gạo. Trước cửa hướng nhà làm sàn phơi thóc lúa.
Đặc biệt, nhà dân tộc Cao Lan nền nhà không nhất thiết phải bằng. Đào hố cột xong ta dùng cây dựng lên và lấy mặt bằng độ bằng phẳng của nhà, lúc này người ta mới đo cột và đục hoặc vạc lỗ, xác định từng cột theo vị trí. Nhà sàn có 3 tầng, 1 tầng nuôi lợn, gà, đặt cối giã gạo, tầng 2 người ở và bếp, tầng 3 là gác để sấy ngô.
Với những đóng góp của mình cho công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể, cuối năm 2018, ông Bình được Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam trao tặng danh hiệu Nghệ nhân dân gian Việt Nam.
Phạm Học