Tối 15-10, tại Cung Văn hóa Lao động Việt - Nhật (TP Hạ Long), khán giả đã được thưởng thức một vở kịch hay do Đoàn kịch nói Công an nhân dân biểu diễn. Vở kịch mang tên “Người tù trao áo” với nhân vật chính là đồng chí Vũ Văn Hiếu, Bí thư đầu tiên của Đặc khu ủy Khu mỏ Quảng Ninh...
Còn có tên gọi khác là “Khát vọng của những linh hồn”, vở kịch có nội dung ca ngợi cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp của những chiến sĩ yêu nước trong nhà tù Côn Đảo vào những năm nửa đầu thế kỷ XX. Vở kịch xây dựng dựa trên câu chuyện về người cán bộ cách mạng trung kiên Vũ Văn Hiếu trước khi mất đã trao lại tấm áo duy nhất cho đồng chí Ba Duẩn (Tổng Bí thư Lê Duẩn sau này).
Câu chuyện đã được biết đến trong nhiều tài liệu, nhưng đây là lần đầu tiên được tái hiện qua ngôn ngữ kịch, mà lại là một vở kịch thuộc dòng chính luận. Vì thế, nó đòi hỏi phải có tính sáng tạo cao. Để đạt được điều đó, tác giả và đạo diễn đã hư cấu ra những cuộc đối thoại của những linh hồn. Tiêu điểm là cuộc trò chuyện giữa 2 linh hồn Vũ Văn Hiếu và Võ Thị Sáu. Đây là hai nhân vật vừa là trung tâm vở kịch, vừa có vai trò dẫn truyện. Truyện kịch xuất hiện bắt đầu từ khi linh hồn Võ Thị Sáu thoát xác gặp linh hồn của Vũ Văn Hiếu để nghe người thợ mỏ kiên trung này kể về những năm đấu tranh cách mạng trước sự đàn áp của thực dân Pháp tại khu mỏ, cũng như tại ngục tù Côn Đảo những năm sau. Đó là những chặng đường đấu tranh cách mạng sôi nổi, nhiệt huyết, thấm đẫm máu và nước mắt…
Cũng chính từ lối dẫn truyện như vậy, tác giả đã xử lý rất khéo nghệ thuật đồng hiện trong điện ảnh. Nhiều đoạn kịch có 2 diễn viên cùng vào vai nhân vật Vũ Văn Hiếu. Một Vũ Văn Hiếu là nhân vật dẫn chuyện (nhân vật này đứng ở trên cao chứng kiến), một Vũ Văn Hiếu khác là con người hành động (nhân vật này ở không gian phía dưới cùng đồng đội). Rất nhiều cảnh trong vở diễn xuất hiện những chiếc mặt nạ đưa lên cao tượng trưng cho những linh hồn nhưng câu chuyện không hề làm cho người đọc thấy ma mị ghê sợ, mà hấp dẫn người xem ở chất lãng mạn cách mạng. Người xem cảm phục những chiến sĩ cách mạng dù sống dù chết vẫn luôn bên nhau, yêu thương và đoàn kết. Cái ấm áp tình người, tình đồng đội đã xua tan máu me, đòn roi tra tấn, pháp trường, nghĩa địa ghê rợn.
Thêm vào đó, vở kịch có những tình huống kịch rất nhân văn như khi linh hồn Võ Thị Sáu thảng thốt nhận ra mình đã chết, xót xa gọi mẹ khi mẹ đến thắp hương mộ mình, ngỡ ngàng hỏi linh hồn Vũ Văn Hiếu rằng: “Cháu mãi mãi 19 tuổi, không có tuổi 20 ư?”. Hay hình ảnh Vũ Văn Hiếu phải dứt áo xa quê, để lại phía sau người bạn gái thủy chung chờ đợi. Vũ Văn Hiếu khắc khoải mong được trở về thăm quê cũ. Vũ Văn Hiếu trước khi nhắm mắt còn kiên quyết không ăn quả trứng cầm hơi mà nhường đồng đội, cởi chiếc áo của mình cho Ba Duẩn mà ra đi trong cảnh ở trần. Từ đây, khán giả hiểu hơn những mất mát, hy sinh to lớn của những chiến sĩ cộng sản tiền bối như: Lê Hồng Phong, Vũ Văn Hiếu, Nguyễn Văn Cừ, Võ Thị Sáu…
Với nội dung vở kịch như thế đòi hòi một sự sáng tạo rất lớn trong hình thức thể hiện. Và đạo diễn sân khấu đã làm rất tốt việc trang trí bối cảnh một cách cơ động. Bối cảnh được thiết kế bên dưới là xà lim song sắt nhà tù, bên trên bục cao là mặt phẳng nghiêng làm chỗ cho hai nhận vật dẫn truyện… Chỉ cần kéo nhẹ tấm màn che đi những cái song sắt là bối cảnh khai trường ở Vùng mỏ lại hiện ra. Những người thợ mỏ làm cách mạng dưới sự dẫn dắt của đồng chí Vũ Văn Hiếu đang bàn bạc, đấu tranh ở bên dưới. Phía sau sân khấu là bức tranh hàng dương rì rào, bãi biển nghĩa trang… Cảnh trí sân khấu thể hiện sự cách biệt âm dương khi phía trên sân khấu là hình ảnh của những cây phi lao ở nghĩa trang Hàng Dương rì rào trong gió, còn phía dưới là những bục bệ màu đen tượng trưng cho cõi âm xa cách. Thêm vào đó là hiệu ứng ánh sáng đã tạo ra những cái bóng cho nhân vật kết hợp những chiếc mặt nạ tượng trưng cho linh hồn đang lơ lửng, rồi đến âm hưởng của dòng nhạc Thánh ca cộng với giai điệu của ca khúc “Biết ơn chị Võ Thị Sáu” v.v.. Tất cả đã tạo ra cảm hứng bi tráng cho vở diễn.
Đây là cách xử lý sân khấu khá sáng tạo, đơn giản mà hiệu quả. Bối cảnh đó chẳng những không gợi cảm giác u ám, ngược lại lôi cuốn khán giả vào nội dung câu chuyện, vào đời sống nội tâm của những linh hồn, với nhiều trăn trở, mâu thuẫn; mâu thuẫn giữa con người cá nhân với trách nhiệm tập thể, giữa tình yêu lứa đôi với nhiệm vụ phải hoàn thành, giữa sự sống và cái chết v.v.. Và vượt lên trên hết, những người tù cách mạng vẫn biết gác lại niềm riêng để cống hiến cho sự nghiệp chung.
Thành công của vở kịch, ngoài những sáng tạo của tác giả và đạo diễn như nói ở trên, còn do tài năng của dàn diễn viên. Trong đó phải kể đến 3 diễn viên chính là: Ngọc Thân trong vai người chiến sĩ cách mạng Vũ Văn Hiếu sâu nặng nghĩa tình, Đăng Hòa chững chạc trong vai diễn Lê Duẩn, Bích Ngọc trong vai Võ Thị Sáu hoàn toàn mới đầy chất ngây thơ, trong sáng. Lời thoại của các nhân vật cũng được các diễn viên xử lý hết sức trau chuốt. Cuộc đối thoại tưởng tượng giữa Tổng Bí thư Lê Duẩn với linh hồn Vũ Văn Hiếu và những đồng đội năm xưa ở nghĩa trang Hàng Dương (Côn Đảo) trong màn kết thúc dường như muốn nhắn gửi đến những đảng viên hôm nay là làm sao để sống cho xứng đáng với quá khứ đầy hy sinh và cũng rất đáng tự hào của thế hệ cha anh…
Huỳnh Đăng