Nguyễn Thị Ngọc Tú là cái tên quen thuộc trên văn đàn suốt 3 thập kỷ cuối của thế kỷ XX. Bà từng là giáo viên, sau chuyển xuống Quảng Ninh làm báo Vùng mỏ. Tại đây, bà kết duyên cùng với Nguyễn Ngọc Chánh, một nhà báo miền Nam tập kết ra Bắc. Bà là một nhà văn viết khoẻ với 8 tiểu thuyết, 6 tập truyện, 1 tập thơ và nhiều bút ký văn học. Trong những sáng tác của bà, nhất là thời kỳ đầu, hình ảnh vùng đất và con người Quảng Ninh có một vị trí xứng đáng...
Theo PGS.TS Lê Thị Đức Hạnh, thành công của tiểu thuyết đầu tay “Huệ” (NXB Văn học ấn hành năm 1964) và môi trường công tác của phóng viên báo Vùng mỏ đã giúp con đường nghệ thuật của Nguyễn Thị Ngọc Tú thêm dài rộng. Năm 1966, Nguyễn Thị Ngọc Tú xuất bản tập truyện “Người hậu phương” cùng nhiều phóng sự, bút ký mang đậm chất văn học. Phần lớn các tác phẩm này được viết ở Khe Hùm (nay thuộc phường Hà Phong, TP Hạ Long), nơi sơ tán của Báo Vùng mỏ.
Cũng tại đây, Nguyễn Thị Ngọc Tú đã sinh cho văn đàn Việt Nam một nữ nhà văn kiêm nhà biên kịch: Nguyễn Thị Thu Huệ. Có lẽ, cũng vì thế mà Khe Hùm là địa danh được nhắc đến nhiều trong sáng tác của Nguyễn Thị Ngọc Tú. Kết thúc nhiều truyện ngắn trong tập “Người hậu phương”, nhà văn thường đề nơi viết: “Khe Hùm, ngày… tháng… năm…”. Sau này, trong hồi ký bà cũng nhắc đến Khe Hùm: “Tháng tư năm 1967, tôi đem con nhỏ (tám tháng tuổi) từ vùng mỏ Quảng Ninh sơ tán về Lim (Tiên Du, Bắc Ninh - PV) sau một đêm bom ác liệt gần như huỷ diệt khu vực Khe Hùm, nơi báo Vùng mỏ tôi đang công tác sơ tán” (Kỷ niệm về “Đất làng”).
Về cái lần chia tay Quảng Ninh của hai mẹ con Nguyễn Thị Ngọc Tú, ông Hoàng Quốc Hải (cũng là một nhà báo - nhà văn đã công tác tại Báo Vùng mỏ) có viết trong hồi ức: “Chiến tranh đến vùng mỏ ngày một ác liệt, đầu năm 1967 Ngọc Tú viết thư về Hà Nội báo cho tôi biết, tạm thời chị đưa con sơ tán về Bắc Ninh ở với bà ngoại và em gái. Tú nhờ tôi về Quảng Ninh đón mẹ con Tú, bởi anh Chánh phải trực báo không đi được. Tôi nhớ, bữa ấy qua phà Bãi Cháy tới giữa sông Cửa Lục thì mấy tốp máy bay Mỹ ào tới. Đó là vùng cảng than, lại gần căn cứ hải quân và nhà máy điện nữa. Cùng một lúc, chúng bắn phá hai nơi: Khu vực hải quân và nhà máy điện. Tiếng bom nổ, tiếng máy bay gầm rú kinh hoàng. Mọi người hốt hoảng, tôi giành bế bé Thu Huệ, ôm gọn cháu ở trong lòng để che chắn và bảo Tú ngồi thấp xuống”.
Dù đã chia tay Quảng Ninh về Bắc Ninh, sau đó về Hà Nội công tác, nhưng Vùng mỏ vẫn là nỗi nhớ niềm thương mà Nguyễn Thị Ngọc Tú đã trải lên trang viết: “Con đường đất đỏ chạy qua những quả đồi trọc trơ trụi kia là con đường đến nhà máy điện. Ở đấy có con sông Uông, sông Bạch Đằng và xa hơn nữa là biển cả…” (Quán bên đường). Vùng than hiện ra như một miền đất hứa, đầy mới mẻ và háo hức: “Em cũng biết những câu chuyện về nhà máy điện và các mỏ than của tỉnh mình qua các bài cô giáo giảng. Nhà cô ở mãi tận Cẩm Phả, Cửa Ông, nhà cô toàn những người đi làm công nhân mỏ nên cô biết nhiều chuyện lắm. Cô đem cho các em xem một hòn than to bằng quả bưởi. Hòn than đen lấp lánh. Cô còn kể cho các em nghe về những anh công nhân lò suốt ngày đêm làm việc trong lòng đất” (Quán bên đường).
Đọc Nguyễn Thị Ngọc Tú, độc giả nhận ra cái không khí lao động sản xuất chiến đấu đang hừng hực ở Vùng mỏ lúc bấy giờ. Không khí ấy đánh thức thời tuổi trẻ của bà cụ Duyên: “Chiều xuống, khi những toa tàu rộn rã đưa công nhân đi làm ca ở mỏ về và tiếng còi tầm nổi lên là bà lại mong chị Hiên về, để nghe chị ấy kể chuyện nhà, chuyện xưởng. Cùng với câu chuyện của chị, bà thấy mình như trẻ lại và quay về những ngày làm việc hối hả, ở bên những tầng than cao ngờm ngợp, đen lánh, bụi mù”. Giờ sức tàn lực kiệt rồi bà đành gửi gắm ước vọng vào đứa cháu, con người hàng xóm làm thợ mỏ mà bà vẫn chăm sóc hằng ngày: “Lớn lên cháu đi học nhỉ? Học làm kỹ sư, bác sĩ. Ừ, ở mỏ có khối cô kỹ sư mặt non bấy ra đấy. Cũng đi ủng, cũng mặc quần tây cứng, cũng quyển sổ, cái bút cầm tay trông đến là chững chạc” (Bà cụ Duyên). Truyện của Nguyễn Thị Ngọc Tú ấm áp bởi đã toát lên cái tình của những người cần lao.
Có thể nói, không gian Vùng mỏ được khúc xạ qua lăng kính Nguyễn Thị Ngọc Tú thành không gian nghệ thuật có tầm bao quát rộng: “Sóng biển về chiều vỗ ầm ầm lên những ghềnh đá xa, tiếng sóng cứ lan rộng mãi ra trên khắp bầu trời thành phố mỏ” (Một tư thế). Nó rộng mở ngay trong cái bi hùng: “Bây giờ cả thành phố vắng ngắt, trống rỗng chỉ còn có nhà máy là vẫn bình thản, toả lên trời những nền khói xám và tiếng máy vẫn rộn rang như tiếng đập của trái tim trong một cơ thể bị thương”. Không gian ấy làm cho con người như nhỏ bé hơn, nhưng không thể đè bẹp được ý chí nghị lực của những người thợ mỏ: “Đứng trên tầng cao, chị nhìn thấy trong những làn mưa trắng xoá nhiều bóng người nón áo lướt thướt đang chạy vun vút. Những bóng người nhỏ xíu ấy lúc thì tụm lại, lúc thì tản ra. Có những cái bóng chạy vòng theo các con đường quanh co dẫn xuống moong sâu. Có những người leo lên tầng cao đứng bên những cái máy khoan. Phía dưới công trường than trụ nhiều người đang di chuyển các đường ray, xe goòng” (Những ngày mưa).
Trong đạn bom, Vùng mỏ còn hiện ra với những nét vẽ mềm mại, đầy lãng mạn và bi tráng như cái nhìn của Vân trong “Một tư thế”: “Giàn hoa thiên lý xanh mởn, trước kia mỗi khi về nhà cô lại ra đứng vít dây hái hoa về nấu canh. Bây giờ nó đã bị cháy mất quá nửa giàn; còn nửa giàn thì vẫn xanh nguyên bốc lên một mùi thơm dịu mát của lá của hoa tươi thoang thoảng bay giữa mùi khét lẹt của khói bom thuốc súng”. Vì vậy, có thể nói, văn Nguyễn Ngọc Tú đầy ắp cảm hứng ngợi ca. Bà ngợi ca những người thợ mỏ không quản ngày đêm làm giàu cho đất nước, những người chiến đấu bảo vệ Vùng mỏ thân yêu như suy nghĩ của nhân vật Thảo trong “Những ngày mưa”: “Chị nghĩ đến những người đang dầm mình trong mưa để giành giật lại từng hòn than, khoảng đất và những người đang đổ máu ngoài xa kia…”.
Trong tham luận tại Đại hội Hội Nhà văn lần thứ 3, Nguyễn Thị Ngọc Tú đã viết: “Những chuyến đi thực tế cùng sống với những người đang sản xuất chiến đấu giúp tôi nhận biết, tác phẩm hay và có ích đâu phải chỉ viết về những đề tài lớn, những nhân vật có tên tuổi mà chính vì đã nói lên được những điều sâu sắc về con người về những nỗi đau và niềm vui mà mỗi con người đều có thể soi bóng vào trong đó”. Và quả thực những năm tháng ở Quảng Ninh đã giúp bà có được nhiều tác phẩm hữu ích để mỗi thế hệ sau này “soi bóng” vào để hiểu hơn về cuộc sống của thế hệ đi trước ở Vùng mỏ thân yêu.
Phạm Học