Nhà thơ Lê Duy Thái: "Tôi luôn ám ảnh bởi khói lửa chiến trường..."

Lê Duy Thái sinh năm 1942, tại Nam Sách (Hải Dương), nguyên là Phó Giám đốc Trường chính trị Nguyễn Văn Cừ. Ông là tác giả nhiều tập thơ như: “Tìm hương”, “Một thời ra trận”, “Giọt thu vàng” “Quảng Ninh thương nhớ Bác Hồ” v.v.. Từng có thời gian dài chiến đấu ở chiến trường miền Nam, đề tài người lính luôn là cảm hứng chủ đạo trong thơ Lê Duy Thái...

- Đọc thơ ông, thấy những tháng ngày ở chiến trường miền Nam thực sự ám ảnh trong câu chữ…?

+ Không ám ảnh sao được! Anh biết đấy, tôi xa vợ con đi biền biệt gần chục năm trời. Nhiều lúc, cái sống, cái chết cận kề nhau trong gang tấc, chẳng biết có trở về được với vợ con nữa không. Vợ tôi từng đã nhận được giấy báo tử của chồng nhưng vẫn tin tôi chưa hy sinh và quyết một dạ đợi chồng… Nay già rồi, mỗi khi ngẫm ngợi lại nhớ về chuyện xưa. Và cứ hễ làm thơ là thế nào cũng bị “ám” bởi lửa đạn chiến trường...

- Người ta bảo thơ Lê Duy Thái viết về chiến tranh thường hay nhắc đến sự hy sinh, chết chóc?

+ Quả đúng là như vậy. Đã nói đến chiến tranh là phải khốc liệt. Bao người đi chiến đấu cùng tôi đã không trở về. Tôi đã chứng kiến quá nhiều sự hy sinh của đồng đội. Phần ký ức này ám ảnh tôi suốt cuộc đời, để khi có độ lùi thời gian, tôi làm thơ về chiến tranh, nó cứ chập chờn ẩn hiện và đi vào thơ tự nhiên như nó cần phải có vậy…

- Cái “cần phải có” khi viết về chiến tranh, như ông nói, là sự khốc liệt. Nhưng đôi khi vào thời kỳ hậu chiến, người ta hay nhắc đến sự khốc liệt hy sinh với một chút gì đó như là sự  “thi vị hoá”… Ông nghĩ thế nào về điều này ?

+ Tôi nghĩ chẳng ai muốn chiến tranh khốc liệt, hy sinh chết chóc cả! Và cũng xin nói ngay là thơ tôi không thi vị hoá chiến tranh. Tôi viết về chiến tranh với sự khốc liệt mà tôi đã trải nghiệm. Tất nhiên đó là cảm xúc đã thăng hoa, nếu trần trụi, đơn giản và “thật thà” quá thì đâu còn là thơ. Nhưng tất cả đều xuất phát từ hiện thực đều có cơ sở thực tế mà tôi chứng kiến. Tôi không bác bỏ hiện thực mà tìm trong hiện thực khốc liệt ấy những ý tứ để làm thơ. Hay nói cho đến cùng, dù tưởng tượng hư cấu thế nào thì cũng là để phản ánh cái bi hùng của chiến tranh cách mạng...

- Ông có thể kể ra vài trường hợp như thế được không?

+ Có lần, đơn vị tôi đang chiến đấu ở bờ sông Thạnh Mỹ (một nhánh cùng với sông Tranh đổ vào sông Thu Bồn, địa phận tỉnh Quảng Nam - TG). Tôi bất tỉnh nhân sự chẳng biết gì nữa, tỉnh dậy thấy quanh mình chẳng còn ai, đồng đội hy sinh hết cả. Cổ họng khát khô, tôi tìm chẳng thấy nước, chỉ thấy miệng đang ngậm cỏ hay lá cây gì đó mà nhai. Sau này, nhớ lại tôi tưởng tượng ấy là mùi cỏ non, ấy là hương bông hoa nhỏ ngậm sương nâng đỡ tâm hồn người chiến sĩ sống sót sau trận càn ác liệt của giặc… Hay một lần khác, chúng tôi đang ăn cơm, bỗng mảnh bom phạt ngang lìa đầu một đồng đội. Cái chết quá đau xót của anh ấy ám ảnh tôi ghê gớm. Sau này, lúc viết về anh, tôi cứ tưởng tượng khi mình vuốt mắt cho đồng đội, trên môi anh vẫn mấp máy tiếng gọi thân thương nhất: “Mẹ ơi!”. Tôi tin mình đúng, bởi nếu là tôi, trong một giây phút còn nghĩ được, tôi cũng sẽ nghĩ đến mẹ mình...

- Tôi nghĩ, có lẽ tình yêu trong chiến tranh vẫn là thi vị nhất. Có phải vậy không, thưa ông?

+ Đúng thế. Tôi cũng đang ấp ủ một tập thơ về tình yêu người lính gắn với những năm tháng chiến tranh. Trong đó nhắc nhiều đến người đồng đội nữ đặc biệt đã hy sinh để cứu tôi. Em đã chủ động nổ súng trước để thu hút làn đạn giặc, rồi hy sinh, còn tôi ở một phía khác thì thoát nạn. Lúc đó, tôi không còn biết được gì nữa. Giờ đây, nhớ về em, tôi làm thơ và nghĩ cái cây mà em núp và nổ súng phải là cây mai rừng đang mùa trổ hoa. Và sau làn đạn giặc thì hoa mai rơi như mưa, tan tác dưới đất. Chưa bao giờ nghe em thổ lộ, nhưng tôi tin em yêu tôi…

Ở một bài thơ khác, tôi viết về mối tình trong chiến tranh của một người phụ nữ như hòn Vọng Phu vậy. Tôi đến nhà chị ở bên Hòn Gai, nhìn cảnh người phụ nữ già tóc trắng, quỳ lạy và khóc trước di ảnh một “chàng trai trẻ” trên bàn thờ đang mỉm cười, tôi rưng rưng xúc động. Khoảng cách giữa họ dường như quá đỗi xa xôi, trong khi tình yêu chị dành cho anh ấy thì mãi vẫn thế, không thay đổi…

- Xin cảm ơn ông về cuộc trò chuyện này

Phạm Học

Cùng chuyên mục