Nguyễn An là một doanh nhân năng động và rất tỉnh táo, luôn nhìn về phía trước trong kinh doanh. Nhưng khi làm thơ, dường như ông lại có xu hướng nặng về hoài cổ! Có lẽ, cũng vì vậy mà ông đặt tên cho tập thơ thứ tư của mình là “Nhớ quê” chăng?
Hãy nghe Nguyễn An tâm sự với làn sương sớm quê hương: “Sao lại làm mờ núi/ Sao lại làm mờ sông/ Sương mù giăng khắp lối/ Che phủ cả cánh đồng?/ Sương ơi từ đâu tới/ Mang nỗi nhớ mênh mông/ Ôi một làn sương sớm/ Cho má em ửng hồng” (Sương sớm). Thơ Nguyễn An có những câu, những bài giữ được cái hồn nhiên như thể được khúc xạ qua lăng kính trẻ thơ: “Diều không phải vỗ cánh/ Mà vẫn bay lên cao/ Chim nhìn diều thèm khát/ Nên lòng cũng ước ao” (Thả diều). Không có những năm tháng tuổi thơ vất vả ở nơi làng quê, Nguyễn An khó mà có được những câu thơ kiểu như: “Bãi mía luống ngô bên doi cát/ Lạnh thấu bàn chân học trò nghèo”. Hay như cái rưng rưng khi tóc đã điểm sương, trở về đặt chân bên bờ tre gốc rạ: “Mây bay về bến không chờ/ Bàn chân run rẩy lần bờ ruộng quê” (Quê mẹ).
Không kiểu cách, tân kỳ, thơ Nguyễn An tìm đến người đọc nhờ sự bình dị. Bình dị nhất vẫn là những bài lục bát kiểu như: “Gặp em bên bến đò ngang/ Mái chèo khua nước ngút ngàn trời sao/ Triều lên, con nước dâng cao/ Thoảng nghe câu hát đồng dao vơi đầy/ Nửa thì tỉnh, nửa lại say/ Nửa ngân ngấn, nửa bàn tay xa mờ/ Nửa đi, nửa lại ngóng chờ/ Cứ thăm thẳm tận bến bờ nhớ mong/ Người đi ngoảnh lại nhìn sông/ Trời không nổi gió mà lòng lá bay” (Dòng sông thương nhớ). Có cái gì đó hơi quen, kiểu như “Đưa người ta không đưa sang sông/ Sao có tiếng sóng ở trong lòng?” của Thâm Tâm trong Tống biệt hành; nhưng cho dù thế, bài thơ vẫn đứng được bởi cái sự chân tình. Và đây nữa, một cách lập tứ và diễn đạt theo kiểu “phản biện” lại những gì cố hữu: “Nếu thiếu em đâu còn là biển rộng/ Biển nhạt lòng thiếu nước mắt mặn trôi/ Em không tới biển hoá thành biển tối/ Sóng vô duyên gọi nỗi nhớ bồi hồi” (Lâu đài trên cát). Thơ tình của Nguyễn An có âm hưởng chung là niềm khắc khoải, nhớ thương, tiếc nuối. Có những bài mới chỉ đọc nhan đề đã thấy điều đó: “Em đi về cuối mùa thu/ Hanh hao nắng gió, mịt mù lá rơi/ Tưởng như mang nặng sự đời/ Vừa đeo, vừa gánh một thời nhớ thương…” (Em đi về cuối mùa thu).
Là một cựu chiến binh ham văn nghệ quần chúng, thường trong các cuộc vui, ông hay “chế thơ” mua vui, giễu nhại. Nhưng đó là thơ vui, còn trong thơ tình, ta thấy một Nguyễn An hoàn toàn khác, đa tình, sâu lắng với nhiều những trăn trở, suy tư. Có thể là sự day dứt về mối tình với cô thôn nữ cả đời lỡ hẹn: “Ngày em lấy chồng xa/ Quê mình hoa xoan nở/ Đường đưa dâu như mơ/ Tóc em hoa tím rắc/.../ Anh đi lâu chưa về/ Bến đò quê ai đợi/ Màu hoa xoan vời vợi/ Nhắc điều gì em ơi” (Mùa hoa xoan). Nhưng cái mạch cảm quán xuyến nhất trong thơ Nguyễn An vẫn là nỗi nhớ quê hương: “Nhớ quê nhớ cả tiếng còi tàu/ Về ga đêm lạnh lúc mưa mau/ Chân đất đầu trần về ăn Tết/ Sướng khổ thế mà vẫn có nhau” (Nhớ quê).
Mộc mạc và chân thành, đôi lúc đến vụng về, nhưng cái đáng quý trong thơ Nguyễn An có khi lại là ở đó, nó cho thấy sự giãi bày sẻ chia chân thành của một doanh nhân rất “say” thơ…
Hải Dương