Những nhà báo nặng nợ văn chương

Trong làng báo, xưa cũng như nay, có không ít người là những nhà văn có tên tuổi. Âu cũng là lẽ thường tình, bởi nghề báo, với đặc thù của nó là đi nhiều, nghe nhiều, thấy nhiều, từ đó mà tích luỹ được nhiều vốn sống thực tế, điều mà một nhà văn không thể thiếu. Ở Báo Quảng Ninh trong suốt 50 năm qua, những người “văn một tay, báo một tay” thì thời nào cũng có. Nhưng nếu kể là “nặng nợ văn chương”, có lẽ không thể không nhắc đến 4 cái tên tiêu biểu; đó là Lý Biên Cương, Tô Ngọc Hiến, Trần Ngọc Tảo và Ngô Tiến Cảnh...

Lý Biên Cương - “Văn chương một gánh Vô Cùng...”

Trong bài thơ “Tiễn bác Lý Biên Cương” của Nhà thơ Trần Nhuận Minh viết để tưởng nhớ Nhà văn khi hay tin ông qua đời ngày 22-3-2010 có câu: “Văn chương một gánh Vô Cùng /Đổ vào đâu cũng không xong nợ Đời”…

Nhà báo, nhà văn Lý Biên Cương.
Nhà báo, nhà văn Lý Biên Cương.

Nói về sự “nặng nợ văn chương” của Lý Biên Cương, tôi nghĩ hình như đây là hai câu thơ đã “chạm” được vào cõi sâu thẳm trong tâm hồn  ông, một người mà ta càng khám phá càng thấy mới lạ, càng đọc ông càng thấy mình còn hiểu quá ít về ông. Lý Biên Cương thuộc thế hệ những người làm báo đầu tiên của Báo Quảng Ninh, từ hồi Toà soạn mới thành lập vào cuối năm 1963, đầu năm 1964. Trước đó, ông từng là phóng viên Báo Tiền Phong, rồi Báo Vùng Mỏ. Năm 1987, từ Báo Quảng Ninh ông được điều chuyển sang công tác tại Hội VHNT tỉnh, làm Phó Chủ tịch Hội kiêm Phó Tổng  biên tập Báo Hạ Long… Gần trọn 1/4 thế kỷ công tác ở Báo Quảng Ninh, với tư cách nhà báo, Lý Biên Cương đã đóng góp không nhỏ cho sự phát triển của tờ báo, không chỉ trong lĩnh vực VHNT mà cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội v.v.. khác. Nhưng cũng có thể nói, đây là những năm tháng quan trọng nhất trong sự nghiệp văn chương của ông, là quãng thời gian ông viết sung mãn nhất, với nhiều những tác phẩm đặc sắc nhất, đặc biệt là truyện ngắn; chính những truyện ngắn ông viết trong những năm tháng này đã khẳng định vị thế của ông trên văn đàn cả nước, tạo nên và định hình một lối viết riêng, không lẫn với ai, mà ta có thể gọi là phong cách Lý Biên Cương. Từ cách đặt tên tác phẩm đến cách dùng từ, cách miêu tả chi tiết, tính cách nhân vật v.v. tất cả đều cho thấy ngòi bút của ông rất tinh tế, vừa hào hoa, vừa dung dị, nhẹ nhàng nhưng sâu lắng, rất thực mà cũng rất lãng mạn. Dường như trong mỗi câu chuyện, tác giả luôn hướng người đọc đi tới cái “chất thơ” luôn tiềm ẩn trong từng chi tiết đời thường của cuộc sống, cho dù đó là hoàn cảnh u tối đến thế nào…

Sau năm 1987, khi đã chuyển công tác sang Hội VHNT tỉnh, và nhất là trong những năm tháng cuối đời, ngoài viết văn, ông vẫn dành thời gian cộng tác nhiệt tình với Báo Quảng Ninh. Dấu ấn để lại của ông trong quãng thời gian này chính là chuyên mục “Trước đèn” trên tờ Quảng Ninh cuối tuần, một chuyên mục ra đời theo sáng kiến của ông, do ông viết là chủ yếu (thỉnh thoảng, khi ông bị ốm hay bận việc gì đó thì tôi viết thay ông, nhưng rất ít!). Đó là những bài viết dạng như tản văn mà sau này ông đã tập hợp thành một tập lấy tên: “Con người kể cũng hay hay”. Đọc “Con người kể cũng hay hay”, lại càng thấy một Lý Biên Cương thật nặng nợ với Đời, nặng nợ với văn chương! Nặng nợ cho tới tận lúc ra đi...

Nhà văn Lý Biên Cương sinh ngày 24-1-1941, mất ngày 22-3-2010. Ông từng xuất bản hơn 40 đầu sách, gồm nhiều thể loại: Truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ, tản văn v.v.. và đã được trao tặng nhiều giải thưởng văn học; như: Giải chính thức Văn học về đề tài công nhân lần thứ I của Hội Nhà văn và Tổng Công đoàn; giải ba (1972), giải nhì (1975) Cuộc thi truyện ngắn Báo Văn nghệ; giải thưởng Văn nghệ Hạ Long lần I (1981), lần 2 (1986), lần 3 (1991), lần 4 (1996); giải B (1993), giải A (1994) của Uỷ ban Toàn quốc Liên hiệp Văn học - Nghệ thuật Việt Nam cho các tập “Những kiếp phù du” (tiểu thuyết) và “Thu cảm” (truyện ngắn) v.v.. Năm 2012, ông được truy tặng Giải thưởng cấp Nhà nước về VHNT...

Trần Ngọc Tảo - “Cưỡi trâu lên trời”...

“Cưỡi trâu lên trời” là tên một tập thơ viết cho thiếu nhi của Nhà thơ Trần Ngọc Tảo xuất bản năm 1996. Tôi nhớ hồi ấy, khi ông tặng tôi sách, nhìn tên tập thơ ngoài bìa, tôi phá lên cười khiến ông ngơ ngác. Ông hỏi sao lại cười, tôi bảo: “-Nếu em là hoạ sĩ, em sẽ vẽ chân dung bác đang “cưỡi trâu lên trời”…”. Chỉ là câu nói vui, nhưng ngẫm lại thấy cũng đúng. Trần Ngọc Tảo ngoài đời cũng như trong thơ, có cái gì đó rất đáng yêu, hồn nhiên như con trẻ; ai tiếp xúc với ông dường như cũng luôn có cảm giác gần gũi, không cần phải e dè, đề phòng… Có lần, nhân nói về Nhà văn Tô Ngọc Hiến (lúc ấy đã mất), tôi bảo: “Bác với bác Hiến, hai người cùng là “dân thợ mỏ” chính gốc, cùng là người đam mê văn chương từ trước khi làm báo (không những thế, hai ông còn cùng ở một phường tại thành phố Cẩm Phả, chỉ cách nhà nhau mấy bước chân…),  nhưng sao khác nhau thế! Bác Hiến thì băm bổ, “ăn to nói lớn”, mà bác lại rủ rỉ, rù rì…”. Nhà thơ Trần Ngọc Tảo cười, nhỏ nhẻ: “- Trời sinh mỗi người một tính, có ai giống ai đâu. Người đã thế, văn chương lại càng thế, nếu giống nhau thì còn gì mà nói!”. Nghĩ kể cũng phải!

Nhà báo, nhà thơ Trần Ngọc Tảo.
Nhà báo, nhà thơ Trần Ngọc Tảo.

Nhưng chính cái “rủ rỉ, rù rì” ấy lại là thế mạnh của Trần Ngọc Tảo, cả trong làm báo cũng như làm văn. Cứ “rủ rỉ, rù rì” tìm kiếm, chắt lọc vốn sống, để rồi một lúc nào đó bất ngờ “bùng ra” như một “thùng thuốc nổ”, đó là phong cách làm báo của Nhà báo Trần Ngọc Tảo. (Bởi vậy, Trần Ngọc Tảo còn có một biệt danh khác mà bạn bè đồng nghiệp đặt cho là: “Nhà báo Thuốc nổ”, vì ông thường ký bút danh T.N.T (tên một loại thuốc nổ) là một nhẽ, nhẽ khác là vì những bài báo của ông thoạt có vẻ “hiền lành”, nhưng đôi khi lại có sức “công phá”, tạo được “phản ứng dây chuyền” trên công luận…).

Ấy là nói về báo, còn trong thơ, cái tính “rủ rỉ, rù rì” lại giúp ông len lỏi được vào những ngõ ngách của đời sống thợ mỏ, khám phá những nét đẹp bình dị của thợ mỏ, cũng như len lỏi được vào thế giới trẻ thơ, nhìn cuộc đời bằng đôi mắt trẻ thơ… Tôi nghĩ thơ ông cũng như cuộc đời ông, nó chinh phục bạn bè không phải ở nét tài hoa như của Lý Biên Cương, không phải ở sự sắc sảo, có phần nghiệt ngã, kiệt cùng như Tô Ngọc Hiến… mà nó chinh phục bởi sự chân thành, hồn hậu; hay nói cách khác, là bởi sự “rủ rỉ, rù rì” của một người luôn nghĩ tốt và muốn điều tốt cho người khác. Cái ấy chẳng phải là rất đáng quý sao?

Nhà thơ Trần Ngọc Tảo sinh ngày 9-4-1947, mất ngày 14-11-2008, là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, nguyên Trưởng Ban Kinh tế - Báo Quảng Ninh, Uỷ viên Ban Thường vụ Hội VHNT tỉnh Quảng Ninh, Chi hội trưởng Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Quảng Ninh. Ngoài làm báo, ông là tác giả của nhiều tập thơ: “Khoảng trời thị xã” (1985), “Đêm sáng” (1990), “Cánh diều” (1991), “Hạt vàng” (1992), “Rồng rắn vào thành phố” (1994), “Cưỡi trâu lên trời” (1996), “Sáng chân mây” (2002). Ông từng đoạt Giải thưởng Thơ năm 1983 của Bộ Lâm nghiệp và Hội Nhà văn Việt Nam và được tặng Giải thưởng Văn nghệ Hạ Long.

Ngô Tiến Cảnh - Khúc ca để lại...

Nhà báo Ngô Tiến Cảnh về Báo Quảng Ninh năm 1987 và năm 1990 thì ông chuyển ra công tác tại Hội Nhà báo tỉnh. Với cả cuộc đời gần ba mươi năm làm báo chuyên nghiệp, quãng thời gian ba năm ở Báo Quảng Ninh thực ra cũng không nhiều, nhưng như có lần ông tâm sự với tôi, đó là ba năm đáng nhớ, ba năm “định hình” Nhà báo Ngô Tiến Cảnh! Và không  biết có phải “cơ duyên” không mà chỉ trước khi đột ngột từ giã cõi đời mấy ngày, Ngô Tiến Cảnh còn viết tặng Báo Quảng Ninh ca khúc “Hành khúc người làm báo Quảng Ninh” nhân dịp Báo sắp tổ chức kỷ niệm 50 năm Ngày ra số báo đầu tiên.

Nhà báo, nhà thơ Ngô Tiến Cảnh.
Nhà báo, nhà thơ Ngô Tiến Cảnh.

“Năm mươi năm tiến bước theo cờ Đảng /cùng quê hương viết truyền thống quang vinh…” - Tôi lẩm nhẩm lời bài hát mà thấy cay cay nơi khoé mắt. Ông viết về Báo Quảng Ninh hay đang viết về chính mình vậy? Với Ngô Tiến Cảnh, dù là làm báo hay làm thơ, cái dễ nhận thấy nhất ở ông chính là sự kiên định với lý tưởng; trong thơ ông không có nhiều những sự cách tân, cả về hình thức cũng như nội dung, nhưng nó lại chinh phục, lôi cuốn độc giả bởi sự chân thành, ào ạt hết mình trong cảm xúc. Không phải ngẫu nhiên mà nhiều người cho rằng thơ Ngô Tiến Cảnh mang đậm dấu ấn thời sự, chính trị, nhưng vẫn không sáo, vẫn lôi cuốn người đọc… Ấy là bởi ông đã “thổi hồn” vào đó! Hay như Nhà thơ Trần Nhuận Minh nhận xét: Thơ Ngô Tiến Cảnh “mang nhiều tâm huyết, đặc biệt là tính trực tiếp về đề tài, về ngôn ngữ, dám nhìn thẳng vào vấn đề mình nói…”. Có lẽ cũng vì thế mà ông làm thơ rất nhanh, dường như với ông, khi đã “có tứ” thì cảm xúc ùa đến và câu chữ cứ thế tự “chảy ra” trang giấy thôi thì phải!

Nói như vậy không có nghĩa Ngô Tiến Cảnh chỉ làm “thơ cổ động”, thơ ông chỉ “mang tính thời sự, chính trị”; ngược lại, ông có rất nhiều những bài thơ viết về mình với những cảm xúc riêng tư sâu kín. Nhưng cho dù thế, cái chất kiên định, hết mình, không “ngả nghiêng” trong tư duy, trong cảm xúc vẫn thể hiện thật rõ nét qua từng câu chữ…

Nhà báo - nhà thơ Ngô Tiến Cảnh đã đột ngột ra đi vào cõi vĩnh hằng… Vậy là đến ngày kỷ niệm Báo Quảng Ninh tròn 50 năm, ông sẽ không còn đứng trong dàn hợp xướng cùng những đồng nghiệp ở Báo Quảng Ninh để hát “Hành khúc người làm báo Quảng Ninh” nữa. Tôi thấy lòng mình rưng rưng…

Nhà báo - Nhà thơ Ngô Tiến Cảnh sinh ngày 20-5-1950, mất ngày 26-12-2013. Về báo chí, ông đã từng đoạt giải ba Giải báo chí quốc gia năm 2002; về thơ, ông liên tiếp 4 lần được nhận giải thưởng Văn nghệ Hạ Long với các tập: Trăng (năm 1990), Lặng lẽ (năm 1995), Lá và Lửa (năm 2000) và tập Đồng vọng (năm 2005). Riêng tập thơ Trăng của ông đã được trao giải nhất.

Tô Ngọc Hiến - Như hòn than xù xì góc cạnh...

Nếu nhà văn Lý Biên Cương thuộc thế hệ “tiền bối” ở Báo Quảng Ninh thì Tô Ngọc Hiến lại là “người đến sau”. Vào những năm cuối thập kỷ tám mươi, khi đã khá nổi tiếng trên văn đàn cả nước rồi, ông mới từ một người thợ cơ khí mỏ chuyển về làm phóng viên Báo. Vốn đã đọc một số truyện ngắn của ông đăng trên báo Văn Nghệ, nhưng lần đầu gặp ông, tôi vẫn thấy bất ngờ. Ở ông có cái gì đó khá đặc biệt, táo tợn, nhuế nhoá, thích bông phèng… nhưng ẩn sau đôi mắt sâu là một nỗi buồn mà phải thật để ý mới nhận ra.

Nhà báo, nhà văn Tô Ngọc Hiến.
Nhà báo, nhà văn Tô Ngọc Hiến.

Sau này, khi tiếp xúc với ông nhiều hơn, tôi nghĩ có lẽ đó là do cái tạng của ông, ông giống như một hòn than xù xì góc cạnh, nhưng bên trong ẩn chứa một ngọn lửa đam mê cháy bỏng. Mà trước hết là sự đam mê cháy bỏng với văn chương. Dường như với ông, trên đời chỉ có văn chương là quan trọng nhất. Hồi ở Báo Quảng Ninh, cũng có người không thích cách sống của ông, cho là hơi “phóng túng, buông thả”, nhưng tôi thì nghĩ ông đang tự lấy mình ra làm “thuốc thử” để xây dựng nhân vật cho tác phẩm của mình. Tôi vẫn nhớ dịp đầu những năm chín mươi, khi các quán karaoke (thực chất là những ổ mại dâm trá hình), mới mở ra, ông là người đầu tiên ở Báo Quảng Ninh viết về nó trong một phóng sự đăng dài kỳ, lấy tên là “Một nghìn lẻ một chuyện karaoke” mà tôi dám chắc, tác giả không dấn thân, không là “người trong cuộc” thì không thể viết một cách chân thực, sống động như thế được! Ngẫm lại thấy Nhà  văn Lý Biên Cương khi nhận xét về các tác phẩm văn học của Tô Ngọc Hiến quả thật chí lý: “Đọc văn anh thấy ngồn ngộn máu thịt một giọng riêng, một tư duy riêng, văn chứa đầy hơi thở của sự sống, như  xẻ da thịt để viết…”. Tô Ngọc Hiến là con người như vậy, lăn lộn với cuộc sống bất chấp mọi điều, cuối cùng cũng chỉ để có những trang viết thực sự máu thịt mà thôi!

Nhà văn Tô  Ngọc Hiến sinh ngày 1-11-1950, mất ngày 1-3-1998. Những tác phẩm chính đã xuất bản: Người kiểm tu (tập truyện ngắn), Mùa hoa sim cuối cùng (tập truyện ngắn), Mùa than trôi (tập truyện ngắn), Hãy cho tôi sống lại (tiểu thuyết), Trên bến bờ riêng khuất (truyện vừa), Đứa con của hồng thuỷ (truyện vừa), Giọt lệ Hạ Long (kịch bản phim). Những giải thưởng được trao tặng: Giải nhất cuộc thi truyện ngắn Báo Văn Nghệ với tác phẩm “Người kiểm tu”; giải Văn học Công nhân với tập truyện ngắn “Mùa than trôi”, giải nhất Văn nghệ Hạ Long với tiểu thuyết “Hãy cho tôi sống lại”...

Quốc Huấn

Cùng chuyên mục