Những thách thức trước thềm hội nhập

Trong 5 năm (2001-2005), tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh Quảng Ninh luôn duy trì ở mức cao và ổn định, tổng sản phẩm (GDP) tăng bình quân 12,75%/năm, đạt kế hoạch đề ra. GDP bình quân đầu người năm 2005 đạt 726 USD, bằng 1,65 lần so với năm 2000.

Sản lượng công nghiệp có chuyển biến tích cực, tổng giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 20,1%/năm, vượt 4,1% so với kế hoạch. Sản lượng than khai thác năm 2005 trên 28 triệu tấn, bằng 1,8 lần chỉ tiêu đề ra. Các dự án mở rộng, hiện đại hoá khu công nghiệp đóng tàu, mở rộng và phát triển mới các nhà máy xi măng, nhiệt điện công suất lớn đang được triển khai với nhịp độ khẩn trương. Các cơ sở sản xuất cơ khí, lắp ráp ô tô được củng cố, đã sản xuất được một số sản phẩm phục vụ thiết thực cho ngành Than và các ngành kinh tế trong nước. Một số sản phẩm công nghiệp địa phương (xi măng, gạch ngói, sứ dân dụng, bia...) phát triển ổn định.

Tỉnh Quảng Ninh đã quy hoạch và huy động đầu tư xây dựng, phát triển các khu công nghiệp, cụm công nghiệp vừa và nhỏ. Các thành phần kinh tế tham gia tích cực vào sản xuất công nghiệp, đã góp phần tạo chuyển biến về quy mô, trình độ công nghệ, cơ cấu sản xuất và chất lượng hàng hoá. Bảo vệ môi trường sinh thái được cả xã hội và cộng đồng quan tâm. Tỉnh có nhiều cố gắng trong quan trắc, thẩm định đánh giá tác động môi trường của nhiều dự án đầu tư và chỉ đạo phát triển sản xuất gắn với bảo vệ môi trường; tổ chức tốt các đợt tuyên truyền về bảo vệ môi trường; thực hiện xã hội hoá trên một số lĩnh vực vệ sinh môi trường.

Trong 5 năm tới, tập trung đầu tư và ứng dụng, đổi mới công nghệ theo hướng hiện đại, tạo bước phát triển đồng bộ các ngành, lĩnh vực kinh tế, trong đó lấy công nghiệp và dịch vụ làm trọng tâm, tiếp tục dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Khuyến khích mọi thành phần kinh tế phát triển công nghiệp phù hợp với quy hoạch, lợi thế của địa phương và nhu cầu thị trường. Nâng cao sức cạnh tranh, hàm lượng khoa học công nghệ, tỷ lệ nội địa hoá trong sản phẩm. Phấn đấu giá trị sản xuất công nghiệp đạt tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm 19-20%. Phát triển dịch vụ du lịch với tốc độ tăng trưởng bình quân của giá trị tăng thêm là 16%/năm, giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp tăng bình quân 5,5% năm. Duy trì nhiệt độ tăng trưởng GDP bình quân 13-14%/năm; cơ cấu kinh tế: Công nghiệp và xây dựng 54%, nông, lâm ngư nghiệp 4%, các ngành dịch vụ 42%.

6 tháng đầu năm 2006 toàn tỉnh Quảng Ninh đạt giá trị sản xuất công nghiệp 7.686 tỷ đồng, tăng 19,7% so với cùng kỳ. Trong đó: Khu vực DN Nhà nước đạt 5.691 tỷ đồng, khu vực công nghiệp NQD đạt 633 tỷ đồng; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 1.362 tỷ đồng. Công nghiệp địa phương trên địa bàn 14 huyện, thị xã, thành phố quản lý chủ yếu là công nghiệp NQD và TTCN, giá trị sản xuất công nghiệp đạt 857 tỷ đồng, tăng 37,6% so với cùng kỳ. Các địa phương có tốc độ phát triển cao là: Cẩm Phả, Móng Cái, Uông Bí, Hạ Long, Yên Hưng, Đông Triều.Trung tâm Khuyến công đã xét duyệt và đề nghị hỗ trợ cho 29 dự án (trong đó có 26 dự án khuyến công địa phương và 3 dự án khuyến công quốc gia) với tổng kinh phí 870 triệu đồng, đã góp phần thúc đẩy CN-TCN ở một số huyện miền núi, vùng cao, biên giới, hải đảo phát triển.

Công nghiệp Quảng Ninh đang phát triển ổn định và đồng đều ở các ngành và các thành phần kinh tế. Song khi Việt Nam gia nhập WTO, cái được, cái mất đang được đặt lên bàn cân. Các doanh nghiệp công nghiệp địa phương trong tỉnh do chưa có được thông tin đầy đủ, nên việc chuẩn bị và đón nhận những thách thức khi hội nhập chưa được sẵn sàng. Các doanh nghiệp công nghiệp sản xuất hàng hoá để xuất khẩu trong tỉnh chủ yếu là chế biến nông, lâm, hải sản cần chú ý đến những yêu cầu chuẩn mực của WTO như: Môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm, quy trình công nghệ sản xuất... có như vậy thì sản phẩm của doanh nghiệp mới được chấp nhận và tiêu thụ trên thị trường WTO. Các doanh nghiệp công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng trong nước phải đối đầu với những sản phẩm cùng loại được sản xuất ở nước ngoài nhập vào Việt Nam nhưng mẫu mã, chất lượng, mỹ thuật và giá bán lại chiếm ưu thế hơn, được người tiêu dùng chấp nhận hơn. Vì vậy doanh nghiệp cần phải xem xét lại những yếu tố kỹ thuật sản xuất, quy trình công nghệ, trang thiết bị máy móc, trình độ quản lý để sản xuất ra sản phẩm có được sức cạnh tranh. Đó là những bài toán hóc búa cần phải giải.

Cùng chuyên mục