Dự án đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng KCN thuộc danh mục lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư, vì vậy từ năm 2003, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ đã có chủ trương tạo điều kiện hỗ trợ tối đa trong phạm vi thẩm quyền của địa phương cho các dự án này trên địa bàn.
Nhà máy sản xuất kết cấu thép Hoàng Hà tại cụm Công nghiệp Kim Sơn, Đông Triều. ảnh:Đỗ Giang
Tại Thông báo số 1068-TB/TU ngày 19-5-2005 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết 06-NQ/TU đã đề ra một số giải pháp hỗ trợ các dự án đầu tư kinh doanh hạ tầng KCN và cũng đã nhận được sự ủng hộ của Bộ Tài chính bằng văn bản. Dự thảo quy định các chính sách hỗ trợ đầu tư đã được chuẩn bị và lấy ý kiến các ngành ngay sau khi có Thông báo của Ban Thường vụ, cuối năm 2006 đã được thẩm định lần cuối và trình UBND tỉnh nhưng rất tiếc cho đến nay vẫn chưa được ban hành. Một chính sách phù hợp với pháp luật và thuộc thẩm quyền của địa phương mà sau hơn 2 năm chuẩn bị vẫn chưa ra đời liệu có quá lâu? Và nó tác động đến tâm lý, lòng tin của nhà đầu tư như thế nào, chắc ai cũng có thể hiểu. Cho đến nay, việc hỗ trợ hạ tầng đến hàng rào các KCN vẫn chưa được thực hiện (trừ KCN Cái Lân giai đoạn I) và cũng chưa bao giờ được ghi vào kế hoạch vốn đầu tư hàng năm, mặc dù theo quy định của Chính phủ đó là trách nhiệm của địa phương. Có lẽ cũng cần nhắc lại một nội dung quan trọng trong kết luận của đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ tại Thông báo số 366-TB/TU ngày 28-2-2007 là: “Đẩy mạnh đầu tư hạ tầng ngoài hàng rào các KCN. Tạo điều kiện thuận lợi về thủ tục pháp lý để các chủ đầu tư phát triển và kinh doanh hạ tầng KCN”;... “Tạo điều kiện thuận lợi tối đa để chủ đầu tư triển khai dự án” để chúng ta thấy rõ hơn trách nhiệm của chính quyền các cấp đối với việc hỗ trợ, tạo điều kiện cho các chủ đầu tư.
Các KCN ở tỉnh ta ra đời chậm và vì vậy, đương nhiên nó phải chấp nhận chung sống với các dự án đã được phê duyệt quy hoạch hoặc chấp thuận địa điểm trước đó với điều kiện các thông tin đó phải đến nhà đầu tư ngay từ đầu. Trên cơ sở đó, chủ đầu tư lập quy hoạch, bố trí quỹ đất đầu tư hạ tầng hoặc cho từng phân khu chức năng phù hợp với hiện trạng và không ảnh hưởng đến các dự án trước đó. Nhưng một số KCN ở tỉnh ta đã xảy ra sự trùng lặp và chồng chéo với các dự án được cấp trước, thậm chí cả sau khi quy hoạch KCN được phê duyệt vẫn bị quên và cấp đất cho dự án khác xen vào. Thực trạng này đã làm các chủ đầu tư mệt mỏi, tốn kém nhiều công sức và tiền của để điều chỉnh lại quy hoạch.
Cuối cùng phải nói đến vai trò của cơ quan quản lý chuyên môn: Theo quy định tại điều 81, Nghị định 108/2006/NĐ-CP ngày 22-9-2006 của Chính phủ, Ban Quản lý các KCN có nhiệm vụ “tham gia ý kiến với các Bộ, ngành, địa phương trong việc xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, chính sách, quy hoạch liên quan đến hoạt động đầu tư, phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế”. Theo hướng dẫn của Bộ Nội vụ tại công văn số 4328/BNV-TCBC ngày 6-12-2006 thì 1 trong 2 chức năng quan trọng nhất của Ban Quản lý các KCN là “Thực hiện chức năng quản lý Nhà nước trong quản lý tập trung thống nhất hoạt động trên lĩnh vực đầu tư xây dựng và phát triển kinh tế tại các KCN”. Trên thực tế, từ khi được tổ chức lại vào cuối năm 2000, Ban Quản lý các KCN đã làm được nhiều việc để đưa hoạt động KCN từng bước có vị trí trong đời sống kinh tế, xã hội ở tỉnh ta. Trong đó việc giúp UBND tỉnh xây dựng chương trình phát triển các KCN trên địa bàn và sau này là quy hoạch phát triển các KCN đến năm 2015, định hướng đến năm 2020 phải được coi là nền móng, là cơ sở pháp lý cho chiến lược phát triển các KCN của tỉnh một cách bài bản. Tuy nhiên, so với yêu cầu, còn nhiều việc, nhiều vấn đề cần được hoàn thiện để đảm bảo thực hiện hết chức năng nhiệm vụ của Ban Quản lý. Trong đó có thiếu sót thuộc về chủ quan như kinh nghiệm vận hành và quản lý các KCN còn thiếu, năng lực trình độ của đội ngũ cán bộ công chức chưa đáp ứng được đòi hỏi của tình hình mới. Mặt khác do ra đời sau so với các cơ quan chuyên môn khác, lại là một cơ quan đặc thù, chỉ thực hiện một số chức năng quản lý Nhà nước trong các KCN và không thuộc hệ thống các cơ quan chuyên môn trực thuộc UBND tỉnh theo Nghị định 171/NĐ-CP ngày 29-9-2004 của Chính phủ nên mặc dù Ban Quản lý có dấu Quốc huy, nhưng vai trò, vị trí của Ban Quản lý chưa thật sự rõ ràng. Đôi khi còn bị coi như là một cơ quan phụ, tạo tâm lý “con nuôi” trong đội ngũ cán bộ công chức. Quá trình tham gia giải quyết các khó khăn cho các doanh nghiệp đầu tư và kinh doanh hạ tầng, đôi khi tiếng nói của Ban Quản lý chỉ mới được nghe như là một nhân tố xúc tác, là người đi “kêu hộ” doanh nghiệp chứ chưa nhìn nhận như của ý kiến có trách nhiệm, là chính kiến của một cơ quan quản lý chuyên ngành. Thậm chí có những cuộc họp giải quyết những vấn đề của chính các KCN hoặc có liên quan đến các KCN, Ban Quản lý cũng “quên” được mời, làm cho những người trong cuộc cũng “mù thông tin” ngay chính trên sân của mình .
Được biết sắp tới, Chính phủ sẽ ban hành Nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Ban Quản lý. Nhưng trong khi chờ đợi Nghị định ra đời, thiết nghĩ ngoài đòi hỏi sự nỗ lực chủ quan của đội ngũ cán bộ công chức phải tiếp tục học tập, nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn, tăng cường trách nhiệm để thực hiện thật tốt nguyên tắc “một cửa, tại chỗ”. Cần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo và quan tâm tạo điều kiện của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh cũng như sự ủng hộ, đồng cảm của các cấp, các ngành tạo điều kiện không chỉ cho Ban Quản lý thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của mình mà thiết thực hơn cả là chia sẻ, tạo điều kiện và sớm có các giải pháp cụ thể thiết thực giải quyết những bất cập đã nêu trên đây để giúp các doanh nghiệp đầu tư kinh doanh hạ tầng giải quyết các khó khăn, yên tâm phấn khởi làm ăn, đẩy nhanh tiến độ xây dựng các KCN để những nơi này thật sự trở thành các địa chỉ hàng đầu thu hút đầu tư trong và ngoài nước. Các doanh nghiệp đầu tư và kinh doanh hạ tầng phải là những nhân vật cần được ưu tiên trước tiên, bởi vì đó chính là những “cỗ máy cái” đẻ ra “các máy con” là các nhà đầu tư thứ cấp. Đây phải chăng cũng là một tiêu chí để các nhà đầu tư và dư luận xã hội đánh giá môi trường đầu tư và năng lực cạnh tranh của địa phương?