Nội ơi!

-“Đỏ Nhu bỏ đấy, chạy quàng vào xem nồi cháo của chị sủi chửa”. Tiếng nội già nua, khê đặc, cố ngân lên tới tai đứa em họ tôi đang hí húi với mấy con châu chấu ngoài vườn. Tôi không quen với nội, không quen với gương mặt hằn những nếp nhăn và tấm lưng còng, không quen với tấm chăn có mùi mồ hôi pha với mùi trầu không của nội dẫu nội đã giặt và ươm nắng đến cả tuần lễ, không quen cả với giọng nói đặc sệt quê mùa toàn từ địa phương mà tôi không thể hiểu. Tôi không quen cả với căn nhà lợp mái ngói đỏ, quét vôi trắng, không bao giờ đóng cửa với những tiếng chổi tre loẹt quẹt cả ngày, tiếng lợn eng éc kêu đói, tiếng gió thổi lẫn vào trong đám tre xào xạc, mang cả mùi phân bò lẫn rơm rạ vào phòng mà lúc nào cũng có chiếc mành tre chắn trước cửa. Tôi xa lạ với nội, xa lạ với căn nhà, xa lạ với vùng đất này, tôi xa lạ với tất cả hay tất cả xa lạ với tôi, tôi không biết, chỉ khăng khăng biết rằng tôi không thuộc về nơi đây.

Ngày mẹ theo cha về nhà nội làm dâu, nhà ngoại tuyệt giao với mẹ, gán cho mẹ hai từ “bất hiếu”, gán cho nội hai từ “thất đức”. Tôi không hiểu, không bao giờ hiểu, không ai chịu nói cho tôi hiểu, nhưng tôi tin rằng người lớn luôn có những lý do chính đáng để không hành xử kiểu trẻ con. Và như thế, tôi lớn lên mà không có ngoại, dù ngoại vẫn ở đó, cách nhà nội những bước chân mà có cố đi vội vã cũng không thể mỏi.

Mẹ mang thai lần đầu. Nội tính đến việc đặt tên cháu trai đích tôn ngay từ lúc mẹ mới nôn oẹ sau bữa cơm độn ngô, sắn đầy sạn. Mẹ sảy thai lần đầu ở tháng thứ ba. Nội quay mặt đi, chẳng nói với mẹ nửa câu.

Mẹ mang thai lần hai. Nội khắc nghiệt bảo “Nhất định phải đẻ được”. Mẹ sảy thai lần hai ở tháng thứ tư. Nội chua chát bảo “Gà mái mà không biết đẻ”.

Mẹ mang thai lần ba, cơ thể xanh xao gầy rộc, đau ốm liên miên. Nội dửng dưng bảo “Cố mà đẻ rồi muốn đau ốm gì thì đau ốm”. Mẹ không sảy thai ở tháng thứ ba, cũng không sảy thai ở tháng thứ tư. Đến tháng thứ bảy, mẹ vẫn không sảy thai nhưng cơ thể mẹ chỉ còn là túi da xanh xao bọc lấy đống xương gầy và cái bụng to vượt mặt. Mẹ sinh non, đứa trẻ mà đáng lẽ sẽ là anh trai tôi vội vã ra đời khi chưa đến lúc phải ra, chỉ để vội vã khóc oe oe được mấy tiếng rồi vĩnh viễn chẳng bao giờ khóc nữa. Nội cay nghiệt dậm chân dưới nền gạch đỏ chửi đổng “Ăn cho phí cơm, phí của”.

Cha nhất định không để mẹ mang thai thêm lần nữa. Nội nhất định giục mẹ phải “Đẻ cho bằng được”. Cha dắt mẹ đi khỏi vùng quê nghèo, đến vùng quê khác nghèo hơn nhưng không có tiếng nội, không có cả tiếng ngoại, chỉ có cha và mẹ. Rồi mẹ lại mang thai. Nội nhắn gửi vài chữ qua con buôn từ dưới vùng xuôi lên bảo “Đưa nhau về kẻo nhà này mang tiếng bạc đãi con dâu”.

Khi mẹ mang thai đến tháng thứ chín, thấy cha không đưa mẹ về, nội nhắn tiếp “Đẻ con xong, mang về để có khẩu chia ruộng”. Mẹ sinh tôi, còi cọc nhưng không đau yếu. Nghe tin mẹ sinh con gái, nội nhắn vẻn vẹn vài chữ “Lần sau cố mà đẻ con trai”.

Khi tôi tập nói đến khi biết nói hẳn, tôi vẫn không biết gọi tiếng “nội”, cũng không biết gọi tiếng “ngoại”, cũng không biết đến các từ “cậu, mợ, chú, thím, cô, dì”, chỉ biết gọi “cha, mẹ”, chỉ gọi “cha, mẹ” mà thôi. Trong đôi câu chuyện lõm bõm tôi nghe được khi ngồi trong lòng cha mẹ về những câu chuyện thời thơ ấu, tôi biết nhà nội giàu, nhà ngoại cũng giàu. Không ai kể cho tôi câu chuyện hồi nhỏ của tôi, tôi cũng biết nhà mình nghèo, chẳng bao giờ có được cái sân gạch, mái ngói, chẳng bao giờ có được tấm mành tre chắn ở cửa những ngày nắng gắt, thậm chí chẳng bao giờ có được miếng bánh đa vừng bẻ vụn.

Lần đầu tiên tôi về quê, là khi ba tuổi, tôi biết thêm nhà các chú bên nội đều có ruộng rộng do nội chia cho, ai cũng có nhà sân gạch do nội xây cho. Chỉ cha không có, dù là mảnh đất cằn sỏi bỏ hoang hay góc vườn đầy cỏ dại cũng không. Nội bảo “Không có con trai, cho đất cũng phí”.

Tất cả lỗi lầm cho sự chia cách giữa cha và nội, nội đổ cho mẹ. Kể từ khi cha mẹ còn ở bên nội, đến khi cha mẹ rời xa nội, đến cả khi cha mẹ không còn có thể nào gần lại với nội được nữa, nội vẫn trút hết cay nghiệt cho mẹ.

Tất cả khổ cực mà cha đang chịu trong sự đói nghèo cùng mẹ, cũng được trút cả lên mẹ, cả vì sự “oan ức” mà bên ngoại “đặt điều” cho nội là “thất đức” vì nội không bán chịu tiền thuốc cho ngoại khi bác cả bệnh.

Ngắn. Cô đúc. Với không nhiều tình tiết... Nhưng câu chuyện lại ẩn chứa bao giông bão của những số phận nhỏ nhoi. Và đằng sau những giông bão cuộc đời ấy là giông bão trong tâm hồn một đứa trẻ... Tất cả hiện lên như những thước phim quay lướt, nhưng vẫn đủ để người đọc cảm nhận được nỗi đau dồn nén trong từng chi tiết... Đó là cái đã làm nên thành công của truyện ngắn này...
(Nhà văn Dương Hướng giới thiệu)

Cha mất vì sốt rét khi ở trong rừng sâu, khi ngụp lặn trong khát vọng đổi đời hay chí ít cũng là chút tiền mang về cho mẹ con tôi để tôi được đi học, trong mỏ vàng - nơi có cả trăm người đổ xô đến nhưng chẳng có mấy người lành lặn trở về mà mang được theo chút tiền ít ỏi. Nội nhất quyết đưa thi thể cha về quê an táng - nơi mà cha đã dứt áo ra đi, thề không quay lại. Mẹ níu giữ thi thể cha ở lại nơi cha đã sống - nơi cha đã coi là nhà duy nhất ở phần nửa sau của cuộc đời mình nhưng bàn tay mẹ bé quá, mẹ níu giữ không nổi. Mẹ không đủ sức níu giữ nổi cả tôi - đứa con duy nhất mà cha còn để lại. Mẹ ngậm ngùi theo nội mang linh cữu cha về, như người xa lạ trong ngôi nhà không bao giờ dành cho mẹ.

Lại vì đồng tiền cho tôi, mẹ đi làm xa. Tôi còn lại một mình, với nội. Tôi đổ tất cả mọi lỗi lầm lên đầu nội. Từ việc mẹ bị ngoại từ mặt, coi là “bất hiếu” đến cả hai từ “thất đức” mơ hồ vẳng vào tai tôi. Tôi đổ tất cả mọi cay đắng lên nội cả những ngày nghèo khổ đẩy cha tôi đi vào cái chết. Đổ lỗi cho cả những người anh hay chị đáng lẽ vẫn còn cùng tôi sống trên đời. Đổ lỗi cho việc mẹ phải đi làm xa để gửi tiền về cho tôi ăn học tử tế mà không mang tiếng “sống bám” với nội. Với tôi, nội vẫn cứ chỉ là người lạ, tất cả những gì thuộc về nội với tôi đều là xa lạ. Tôi không thuộc về nơi này, nơi này cũng chẳng bao giờ thuộc về tôi.

Nội gọi tôi là con, tôi nhất quyết xưng là cháu, như cách tôi xưng với tất cả những người khác ở tuổi nội, tôi cũng chỉ gọi nội là “bà”, thay vì là “nội” như những đứa cháu khác của nội. Ngay cả lúc nội thức thâu đêm, thay khăn ướt trên trán tôi mà tôi vẫn cố hất văng nếu tỉnh táo trong cơn sốt li bì mà nội không gọi mẹ về. Ngay cả khi tôi biết nội sụt sịt vào mỗi lúc tôi đau bụng quằn quại mà không cho nội đụng vào người. Ngay cả khi nội bê tô cháo vào dỗ tôi ăn từng miếng, tôi cũng phải cố vùng lên, dùng hết sức lực đang bị cơn sốt làm cho kiệt quệ để nói, để gằn lên:

- Bà cứ để cháu chết đi, không cần nấu cháo cho cháu.

Nội bực mình giơ bàn tay lên toan tát vào mặt tôi. Tôi quay lại, vẫn cố vùng ra khỏi giọng nói yếu ớt của mình:

- Bà đánh được chết cháu thì đánh đi. Giam cháu trong nhà này làm gì? Trả cháu về với mẹ cháu.

Nội không đánh tôi, cũng không mắng tôi thêm một câu. Tôi nằm khóc, tôi khóc nức nở át đi tất cả những âm thanh quê mùa mà có ở mãi tôi cũng không quen nổi, chỉ có một tiếng tôi không át nổi, là tiếng thút thít của nội phía sau liếp cửa không đóng bao giờ.

Tin mẹ mất vì tai nạn trong lúc gánh hàng rong qua đường, một chiếc xe ô tô đâm phải mẹ, bay về làng. Nội cố giấu tiếng rưng rức ở phía sau liếp cửa cho đến khi tôi biết chuyện. Tôi không đợi để lớn hẳn lên bởi không còn lý do để cho tôi chờ đợi ở nơi mà tôi biết sẽ không có mẹ về thăm nữa, bỏ nội đi. Tôi bỏ nội đi dẫu không biết chắc có nơi nào cho mình dung thân hay không, tôi bỏ đi khỏi những cay nghiệt ám ảnh suốt tuổi thơ tôi qua những giọt nước mắt mặn mòi của mẹ và tiếng thở dài của cha. Tôi bỏ đi khỏi nơi mà tôi khăng khăng biết rằng nó không thuộc về mình, mình cũng không thuộc về nó.

Sau nhiều năm, sau đủ những bon chen và ngập ngụa cô đơn vẫn chưa vượt qua nổi, tôi trở về, cố gượng lên để tỏ ra ngạo nghễ. Tôi muốn nội thấy rằng không có nhà ngói nội xây, không có ruộng vườn nội chia, tôi vẫn sống tốt. Tôi khinh khỉnh cất tiếng gọi trổng “Có ai không?”. Không ai đáp lời. Chỉ có căn nhà khép cửa bám đầy bụi, chăng mạng nhện.

Tiếng chổi tre loẹt quẹt trên nền gạch với tiếng nội già nua khê đặc gọi tên tôi pha với mùi trầu không đượm mùi. Tôi giật mình quay đầu lại. Không phải nội, chỉ là tiếng gió. Chỉ là tiếng đắng ngắt nơi cổ họng cố cất tiếng mà chẳng nên lời để gọi “Nội ơi”…

Truyện ngắn của Hàn Băng Vũ

Cùng chuyên mục