Phát triển điện lực ở Quảng Ninh: Thực trạng và triển vọng

Theo quy hoạch phát triển, Quảng Ninh sẽ là Trung tâm nhiệt điện lớn của quốc gia, đến nay trên địa bàn tỉnh ta đã xây dựng được hệ thống cơ sở điện lực khá ấn tượng.

Năm 1975 Nhà máy Nhiệt điện Uông Bí có công suất 55MW, sau quá trình mở rộng giai đoạn I đã đạt công suất 300MW (năm 2007). Lưới điện cao áp với sự đầu tư khá lớn, những năm gần đây việc đưa 2 trạm biến áp Tràng Bạch và Hoành Bồ có tổng dung lượng 375MW vào vận hành. Bên cạnh đó hệ thống các trạm biến áp 220KV và 110KV đã đảm bảo khả năng chuyển tải điện từ lưới quốc gia phục vụ sự phát triển công nghiệp, dân sinh của tỉnh. Đường dây 220KV dài 81,7 km riêng đoạn Tràng Bạch - Hoành Bồ được thiết kế mạch kép; đường dây mạch kép và hệ thống đường dây hạ áp dài 6.774 km đã góp phần tích cực đưa sản lượng điện thương phẩm từ 749,62 triệu KWh (năm 2004) lên hơn 1 triệu KW vào năm 2006 và giảm tổn thất điện năng từ 6,49% xuống còn 6%.

Phát triển điện lực ở Quảng Ninh: Thực trạng và triển vọng ảnh 1

 Lắp đặt hệ thống cầu dao máy cắt 110 KV ở Trạm 110 KV Cẩm Phả.    (ảnh: Công Thành)

Những năm gần đây lưới điện nông thôn có sự đầu tư phát triển khá rõ nét với 526 trạm biến áp trên 61.945KVA với 803 km đường điện hạ áp. Năm 2006 điện phục vụ nông thôn đã đạt 98,952 triệu KWh, tăng 41% so với năm 2004. Tuy nhiên, hiện nay trên địa bàn tỉnh còn 6.522 hộ vùng sâu, vùng xa chưa được sử dụng điện lưới và 2.851 hộ ở 8 xã đảo đang sử dụng điện giá cao từ các nguồn dieden, điện mặt trời... Để đạt được mục tiêu mà Nghị quyết HĐND tỉnh đã đưa ra: Đến năm 2010 phấn đấu 100% số hộ dân nông thôn có điện, dự kiến mỗi năm tỉnh cần đến 40 tỷ đồng dành cho đầu tư, cải tạo, phát triển lưới điện nông thôn.

Năm 2005, Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công thương) đã quy hoạch phát triển điện lực Quảng Ninh giai đoạn 2006 - 2010 có xét đến 2015, dự kiến điện thương phẩm đạt 2.605 triệu KWh và tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm là 24,3%. Trong đó điện phục vụ công nghiệp, xây dựng tăng 27,6% năm; điện cho thương nghiệp, khách sạn, nhà hàng tăng 21,4% và điện năng bình quân đầu người là 2.171 KWh/năm. Để đạt được mục tiêu này khối lượng đầu tư xây dựng lưới điện giai đoạn 2006 - 2015 là khá lớn, trong đó chỉ tính riêng 4 trong tổng số 9 hạng mục là các hệ thống đường dây 220KV và 110KV cùng với các trạm biến áp tương đương đã cần tới số vốn đầu tư hàng trăm tỷ đồng. Theo sơ đồ phát triển điện lực, đến 2015 tổng công suất nhiệt điện của Quảng Ninh sẽ đạt từ 5.000 đến 6.000MW bao gồm 7 dự án, trong đó nhà máy điện (NMĐ) Quảng Ninh có công suất 1.200MW; NMĐ Cẩm Phả 600MW; NMĐ Uông Bí 600MW; NMĐ Mạo Khê 420MW; NMĐ Mông Dương 2.200MW; NMĐ Điền Công 600MW; NMĐ Thăng Long 300MW. Các nhà máy nhiệt điện trên có tổng mức đầu tư 6,62 tỷ USD, trong đó có 4 nhà máy sẽ hoà vào điện lưới quốc gia vào năm 2009. Trong lộ trình đấu nối các nhà máy điện, Thủ tướng đã phê duyệt đầu tư dự án đường dây và trạm biến áp 500KW Quảng Ninh - Thường Tín dài 149 km với trạm biến áp 450MW - 500/220/110KV, giai đoạn hoàn thành trước năm 2010 tổng mức đầu tư 1.891 tỷ đồng.


Nhà máy nhiệt điện Quảng Ninh đang đẩy nhanh tiến độ thi công

Nhà máy nhiệt điện Quảng Ninh đang đẩy nhanh tiến độ thi công


Bên cạnh đó nguồn năng lượng thuỷ điện nhỏ và việc phát triển các năng lượng tái tạo cũng được quan tâm. ởkhu vực miền Đông xây dựng 3 nhà máy thuỷ điện là Khe Soo, Hợp Thành, Mạ Chạc có công suất 20MW với tổng mức đầu tư 323,44 tỷ đồng. Dự kiến hoàn thành vào năm 2010. Các huyện đảo đang được khảo sát để phát triển nguồn năng lượng phù hợp. Hiện tại Viện Khoa học Năng lượng cùng Viện Công nghệ và Khoa học Việt Nam đang thực hiện đề tài “nghiên cứu cơ sở khoa học, lập quy hoạch tổng thể cung cấp năng lượng bền vững cho huyện Cô Tô”. Thời gian thực hiện đề tài trong 2 năm để hoàn thành cung ứng năng lượng bền vững có công suất 10 - 15KW cho một cụm dân cư với kinh phí đầu tư 1,6 đến 2 tỷ đồng và sẽ lấy đó làm cơ sở phát triển nguồn năng lượng sạch cho các xã đảo và một số xã vùng sâu, vùng xa ở tỉnh.

Quảng Ninh có nhiều lợi thế để phát triển nhiệt điện, đây là thuận lợi lớn góp phần giảm bớt tình trạng vận chuyển than bảo vệ môi trường và tạo ra thế mạnh để tỉnh ta đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển đồng bộ kinh tế - xã hội trên các vùng miền.

Cùng chuyên mục