Rồng giáng hạ

Tôi học được miếng võ vườn của thầy Năm hồi tôi mười tám tuổi… Thầy Năm vừa là một võ sư, vừa là một pháp sư. Mỗi khi trong làng có giỗ chạp ma chay, cúng kiến hoặc người bị thư ếm, ma nhập họ thường tới thỉnh ông. Một lần tôi chứng kiến không hiểu nhỏ kia bị kinh phong hay ma nhập mà người nó đang ngồi bỗng nhảy dựng lên, con mắt trợn ngược, răng nghiến nghe rau ráu. Thầy Năm ngồi xếp bằng đối diện, tay bắt ấn ngũ hành, miệng niệm thần chú lâm râm… Xong, thầy vẽ hình cái đầu lâu cùng những chữ bùa vằn vện bằng mực tàu lên tờ giấy đỏ rồi đốt cháy mảnh giấy quơ quơ trước mặt con bệnh. Bất ngờ ông nhảy dựng thét lớn, tay xỉa mạnh vào người nó, không hiểu do lá bùa hiệu nghiệm hay do ngón tay ông xỉa trúng huyệt đạo làm nghẽn tĩnh mạch mà con nhỏ nằm ngay đơ cán cuốc tới chiều mới tỉnh...

Tôi nghe nói thầy Năm là người Miên lai Việt ba đời. Hai chục năm trước ông theo băng cướp biển của Đơn Hồng Tín (một tên anh chị khét tiếng vùng biển hồ Nam Vang). Băng cướp bị tan rã khi đối đầu với chính quyền sở tại. Đơn Hồng Tín tẩu thoát qua Xiêm, còn dư đảng kẻ nối gót y, kẻ qua Lào, qua Việt. Riêng ông được một vị hoà thượng cứu mạng rồi từ đó ông cải tà quy chánh. Vị hoà thượng thấy ông người cốt cách, khí khái bèn truyền dạy môn khoa học thần bí cho ông. Sau ba năm ở chùa, ông hoàn tục lấy vợ. Bà vợ là người Miên lai Việt, bà sinh được đứa con gái đặt tên là Trung Hoa. Khi con bé được mười hai tuổi thì bà “Quy tiên”. Ông chán việc thế thái nhân tình bèn ở vậy nuôi con. Mãi sau Ngô Đình Diệm di dân người Việt từ Cam bốt về những khu dinh điền, thế là ông theo dân làng đến ở vùng thượng nguồn con sông Bé, một vùng đất nổi tiếng nhiều cọp rằn và cá sấu...

Lò võ thầy Năm vỏn vẹn có tám người, tôi là đứa nhập môn sau cùng. Ngày thọ giáo, ông bảo: Học võ cốt học lấy cái tâm trước. Tâm phải biết thế nào phải trái, thiện tà. Tâm có chính nghĩa thì võ học mới có hiệu quả. Học võ là để phòng thân cùng để trị bọn hung ác làm càn chứ không phải học để tự thấy ta đây hơn người rồi hành động theo cảm tính thất thường của tuổi trẻ mà làm chuyện ngu xuẩn.

Mấy ngày đầu thầy Năm dạy những phép cơ bản như vận động các khớp xương, thế tấn, thủ cùng cách di động thân hình sao cho nó uyển chuyển lẹ làng. Sau thầy bận bèn giao việc dạy võ cho Trung Hoa (con gái thầy), cô huấn luyện viên mười bảy tuổi này dáng vẻ mảnh mai, xinh đẹp khiến cả bọn môn sinh nhìn mà ngỡ ngàng. Trung Hoa cầm lấy cây gậy tầm vông múa một đường quyền mao kê quần đấu (gà nòi chọi nhau) làm mẫu rồi bắt bọn tôi múa theo.

Tay chân tôi cứng ngắc, cứ lóng ngóng khiến Trung Hoa chú ý. Cô bắt tôi tập lại, rồi gọi thằng Mạnh ra tập với tôi. Thằng này bự con, tóc quăn, mặt rỗ, mũi tẹt, môi thâm, miệng cá óc nóc. Nó cầm gậy múa ba đường rồi xấn tới xỉa ngọn roi vào ngực, tôi đảo người tránh kịp. Bất ngờ nó bật đầu gậy bổ từ trên cao xuống, tôi giơ ngang thanh gậy đỡ đòn. Nó đánh quá mạnh, tất cả trọng lượng của nó như mạch điện tử chập qua thân thể tôi tê rần, từng khớp xương nơi bàn tay kêu rôm rốp. Đang khi thất thế, tôi bị nó quật tiếp một gậy vào khuỷu gối rồi hất té chổng vó lên trời. Trung Hoa cùng cả bọn thấy vậy bật cười như pháo khiến tôi quê một cục. Con nhỏ lên tiếng:

- Cầm gậy mà nắm chặt cả bàn tay như anh thì sao xoay trở lẹ làng được, chỉ hai ngón tay cái kẹp thanh gậy thôi; còn đỡ đòn cũng vậy, cơ thể phải biết tạo ra tính năng đàn hồi để nương theo đòn nặng của đối phương giáng xuống…

Lúc tan buổi học, Trung Hoa bảo tôi theo cô vào nhà lấy thuốc về xoa bóp kẻo bị bong gân. Lấy thuốc xong, tôi cười nịnh nói:

- Nè! Trung Hoa, cô đã đẹp lại còn giỏi võ nữa, trên đời chắc hổng có ai bằng đâu hén.

- Em đâu có muốn học - Trung Hoa đáp - Nhưng ba em bảo: Mang tiếng con nhà võ thì ít nhiều phải biết.

- Dzậy hồi nào tới giờ Trung Hoa có đánh ai chưa?

- Chưa, học võ không nhất thiết chỉ để đánh người. Nó là môn nghệ thuật giúp rèn luyện cơ thể ta trở nên linh hoạt cùng máu huyết lưu thông đều đặn và điều đặc biệt là nó giúp ta tránh khỏi những căn bệnh như trầm uất, thiếu tự tin chẳng hạn.

- Trung Hoa nè! Tui phận hèn duyên mỏng, hổng biết có hân hạnh được Trung Hoa chỉ giáo cho không?

Trung Hoa nhìn tôi lưỡng lự hồi lâu rồi nói:

- Học võ có hai cách “Tĩnh và động”. Động là cách ta tập hồi nãy, tĩnh cũng có hai cách tập, một là ngồi xếp bằng, tay chấp trước ngực theo kiểu thiền của nhà Phật, hai là ngồi trên một ghế cao, hai chân buông thỏng không chạm đất, hai tay đan chéo áp vào lỗ tai để tích tụ điện từ của cơ thể, mắt hướng nhìn mặt trời, hít thở đều đặn và điều đặc biệt là tâm tưởng phải thả lỏng cho nó hoà nhập vào không gian một cách tự nhiên không nên gò ép.

Nói xong Trung Hoa làm mẫu để tôi thấy rồi bảo tôi về nhà tự tập.

Từ đó về sau, những lúc không có thầy Năm, Trung Hoa lại chỉ vẽ cho tôi những ngón đòn mà trong đám môn sinh không ai được biết. Và để trả ơn, tôi luôn tìm cách khen ngợi cô nào xinh, nào đẹp, nào tài…

Cuối kỳ học đến, thầy Năm vận bộ đồ màu lông quạ, lưng thắt dây vải, miệng ngậm ống tẩu bằng gỗ tiện thành hình đầu con rồng. Ông bập bập cái ống tẩu rồi phun ra một làn khói, sau đó ông nói đôi câu về ngày mãn khoá, rồi ngồi xuống cái ghế đẩu, Trung Hoa hầu quạt đàng sau. Thầy Năm đọc thiệu từng bài quyền để bọn tôi múa theo ôn lại; kế đó ông gọi từng cặp ra đấu, cặp cuối cùng là tôi với thằng Mạnh. Khi bái tổ chào thầy xong, tôi với nó so gậy, mắt nhìn thẳng vào nhau. Một luồng ác cảm ngấm ngầm phọt ra từ hai phía chạm nhau. Thằng này cũng ngầm mang một ý tưởng giống tôi là thương thầm nhớ trộm con gái thầy Năm. Cả hai đều ngắm một mục tiêu nhưng tôi lợi thế hơn ở chỗ đẹp trai, biết nịnh đầm lại gần gũi thân thiện, còn nó chỉ dám ngắm nhìn lặng lẽ ngưỡng mộ. Sau một giây so gậy, tôi nhảy lùi ba bước, đập mạnh đầu gậy xuống đất khiến nó tung bụi. Thằng Mạnh quơ gậy thành một vòng tròn rồi đánh gằn mạnh đầu gậy vào không khí, thanh gậy run lên bần bật biểu lộ sức mạnh của người sử dụng. Hai bên giáp lá cà bằng miếng đòn quyền cẩu cuồng loạn chiến (“Chó điên cắn lộn”), tiếng gậy chạm nhau nghe chan chát. Ngoài tôi và nó ra, không ai hiểu được tiếng gậy ấy ngầm chứa một sự hiềm thù. Thầy Năm đứng lên khỏi ghế, chau mày nhìn xuống hai chiếc bóng đang lăn xả vào nhau. Tôi liếc thấy ông ra hiệu dừng cuộc đấu, nhưng mệnh lệnh của ông không còn hiệu lực gì khi mà hai đấu thủ đang trong cơn say chiến. Thầy Năm gõ mạnh tàn thuốc trong cái ống tẩu xuống mặt bàn vang lên cồm cộp. Thằng Mạnh chủ tâm muốn dừng cuộc đấu, nó quay gậy một vòng rồi nhảy lùi. Cơ hội đã điểm, tôi xấn tới hạ thấp người theo thế chảo mã tấn rồi xỉa thốc đầu gậy vào hạ bộ nó bằng miếng đòn lợn lòi độc thủ mà Trung Hoa đã dạy. Ngón đòn trúng đích bất ngờ khiến thằng Mạnh trôi ngược về phía sau, hai tay buông gậy ôm dái, mặt nhăn nhó. Thầy Năm vỗ mạnh cái bàn trợn mắt thét:

- Thằng Giỏi! Ai dạy mày ngón hiểm đó?

Tôi hoảng hồn quăng gậy quỳ xuống ấp úng thưa:

- Dạ... dạ.

- Ai !

- Dạ... dạ - Tôi đưa mắt tìm người cầu cứu và gặp ánh mắt Trung Hoa nhìn tôi trân trân.

- Ai?

- Dạ... thưa... d... ạ... th... ưa…

Bỗng ngoài ngõ có đám người xôn xao. Thầy Năm đảo mắt ra nhìn. Họ tiến vào sân, hớn hở báo với thầy Năm cái tin con rồng mới xuất hiện ở khu rừng sau làng. Một vị bô lão lên tiếng:

- Năm nay là năm Thìn bão lụt. Con rồng giáng hạ chắc là điềm báo trước đại hoạ hoặc có sự thay vua đổi chúa đây? Hôm nay chúng tôi tới thỉnh thầy đến đó làm lễ tế trời cùng khấn vái con rồng đừng phá nhiễu dân lành.

Thầy Năm trầm tư một hồi rồi hỏi:

- Có ai thấy nó?

- Tui - Một vị trung niên lên tiếng rồi phác một cử chỉ làm chứng, hùng hồn.

- Thôi được bà con chờ tôi một lát

Nói xong, ông hối hả bảo đám học trò vào nhà lấy bàn, lấy chiếu cùng những đồ cúng tế mang ra. Thấy tôi còn quỳ dưới sân ông bảo:

- Còn mày sao không lo phụ giúp chúng nó. Tội trạng mày mai mốt tao tính.

Tôi mừng hú hoạ chạy biến vào nhà khuân vác lăng xăng. Khi chuẩn bị cất bước tôi nhìn lại thấy vắng bóng thằng Mạnh, thì ra nó xấu hổ nên lủi mất về nhà.

Lúc đoàn người tới rừng, vị trung niên hồi nãy chỉ tay về phía lán cỏ cứt gà mọc xen lẫn dưới những tàn cây vừng cùng tre gai rậm rịt. Mọi người hướng mắt theo cánh tay ông, im lặng trùm lấy đám đông. Một cơn gió ban trưa quét qua làm rụng lá vàng tháng ba đổ lửa, rồi từ trong đám cây rậm rạp nhô lên một cặp sừng sáu nhánh cùng cái đầu cỡ cái đầu bò. Nó lắc lư vài cái rồi thụp xuống khuất khỏi tầm nhìn. Thầy Năm đặt bàn hương án dưới gốc cây vừng to mát, mọi người làm theo động tác của ông quỳ mọp, vái lạy. Tôi tò mò đi vòng qua phía đối diện, chui lách qua những bụi tre gai, chân bò nhẹ nhàng, hơi thở nén lại, cứ thế dấn tới cho đến khi phía trước hiện ra một con vật khổng lồ. Lạy trời! Thì ra là con trăn, nó đã nuốt chửng con nai chà chỉ còn cái đầu và hai chân trước thò ra. Thân hình nó to cỡ cái gàu múc nước và cuộn tròn một đống như tổ gò mối. Tôi lùi ra nơi an toàn rồi bật quẹt đốt cháy đám lá khô. Lúc đến chỗ thầy Năm tôi nghe ông khấn:

Rồng ơi! rồng hởi!

Nếu có linh thiêng

Thì hãy về trời

Xin đừng quậy phá

Tội nghiệp dân lành

 Cốc... cốc... cốc

Chà ! Nó đã nhận lời nên phun lửa thăng thiêng đây - Thầy Năm chật lưỡi nói với đám đông.

Tôi sợ thầy quê, nên ghé sát tai ông nói nhỏ:

- Thầy ơi! Hổng phải rồng đâu, mà con trăn đang nuốt con nai.

- Trời    đất! - Thầy Năm kinh ngạc - Vậy ra mày đốt lửa?

- Dạ!

Lúc này lửa cháy lan ra ba phía và bốc cao thành ngọn. Con trăn bị sức nóng của lửa, hơi ngạt của khói, bèn          trườn về phía an toàn. Thầy Năm hối đám học trò thủ sẵn gậy gộc chờ nó tới gần hỗn chiến.

Một phần thân hình con trăn ló ra khoảng trống, thầy Năm nhảy vào quất ba gậy rồi lộn người nhảy ra khỏi tầm sát hại. Con trăn nổi giận quét đuôi khiến đám cỏ khô rạp xuống trống hoác. Thầy Năm hối đám học trò hộ vệ để ông vận khí. Lúc này con trăn đã lộ nguyên hình, thân nó dài gần chục sải tay, còn đầu thì cứ lúc lắc cặp gạc nai phía trước. Thầy Năm lao đến bằng sức mạnh tột đỉnh của tuổi năm mươi, ông giáng một đòn chí mạng vào xương sống nó. Một tiếng “chát” vang lên, cây gậy gãy lìa còn lưng con vật oằn xuống. Thầy Năm mất thế nhảy vội vào gốc cây vừng mọc song đôi nép mình cùng lúc con trăn quấn lấy cặp cây vừng tạo thành một cái cũi nhốt thầy Năm vào giữa.

Trung Hoa thét đám môn sinh nhảy vào tiếp cứu nhưng chẳng thằng nào có gan… Con nhỏ khóc lóc, tôi liều mạng lao vào đánh vài gậy, con trăn quay đầu đối diện, cặp sừng nó hứng lấy ngọn roi và hất tôi té ngã suýt nữa thì toi mạng. Trung Hoa đưa gậy khác vừa khóc vừa hối:

- Anh Giỏi! Ráng cứu ba em.

Máu hăng lúc này đã lắng, nỗi sợ tăng lên, hoạ có thằng điên mới nghe lời con gái trong lúc này. Tôi cầm roi thủ thế nhưng có lẽ nhảy lùi nhanh hơn là lao vào tấn công con vật.

Thầy Năm rướn người leo lên ngọn cây nhưng thân con trăn chèn sát khiến ông không leo lên được. Tôi nhấm nhứ con vật cho nó quay đầu ra đừng làm hại thầy Năm thì bất chợt từ phía sau vụt đến một tấm lưng to khoẻ ánh màu mật ong. Nó lao vào bổ mạnh một nhát rựa xuống lưng con vật. Tôi vừa kịp nhìn rõ mặt thằng Mạnh thì nó đã bồi thêm một nhát nữa. Con trăn đau đớn phản xạ, nó quay đầu hất mạnh cặp sừng nhọn hoắt xuyên vào đùi thằng Mạnh. Thằng Mạnh gồng người, từng lọn thịt săn cứng nổi lên có cục. Nó bổ mạnh một nhát dứt khoát xuống lưng con vật khiến thân nó tách lìa, máu phun lênh láng. Thằng Mạnh ngã xuống bất tỉnh.

Trung Hoa nhảy ra, vội vàng hối đám môn sinh giúp cô lôi thằng Mạnh khỏi con trăn và lau rửa, băng bó vết thương cho nó. Lát sau nó tỉnh lại, con nhỏ vui mừng mỉm cười nhìn thằng Mạnh…

Một tháng sau tôi nghe gia đình thằng Mạnh và gia đình thầy Năm bàn tính chuyện cưới hỏi. Tôi buồn bã, khăn gói lên đường, bỏ đi phiêu bạt…

Truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Châu

Cùng chuyên mục