Tăng tốc khai thác than - Cơ hội và thách thức

Những năm gần đây, do tiêu thụ than trong nước và xuất khẩu ngày càng có nhu cầu lớn nên TKV đã tăng lớn tốc độ nâng cao sản lượng khai thác than hàng năm. Tuy nhiên, để tiếp tục tăng trưởng lớn những năm tới đối với TKV không phải không có những khó khăn thách thức, nhất là đối với khâu thăm dò địa chất. Vậy cần phải có giải pháp gì để khắc phục?

Trong thập kỷ đầu thế kỷ 21, nhất là từ năm 2005 đến nay, do thị trường trong nước và nhiều khu vực trên thế giới có nhu cầu lớn về tiêu thụ than, nên Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) đã đầu tư dây chuyền công nghệ hiện đại, mở rộng diện sản xuất, tạo đà tăng tốc nâng sản lượng khai thác than hàng năm. Năm 2007, TKV đã khai thác 45 triệu tấn, tiêu thụ 42 triệu tấn than. Dự kiến năm 2008 sẽ khai thác 46 triệu tấn, tiêu thụ 43 triệu tấn. Do tập trung vào định hướng kèm theo các giải pháp đồng bộ đẩy mạnh khai thác than và phát triển sản xuất kinh doanh đa ngành trên nền sản xuất than, TKV đã từ một Tổng Công ty trở thành Tập đoàn kinh tế đang có vị thế lớn.

t
Các chuyên gia Nhật Bản, Viện KHCN Mỏ và kỹ sư mỏ Mạo Khê lấy mẫu nước tại lỗ khoan số 5, phay FA-150, Công ty than Mạo Khê.  
                                                                                          
ảnh: Mạnh Hùng (CTV)

Mục tiêu của TKV là sẽ trở thành một Tập đoàn kinh tế hàng đầu Việt Nam trước năm 2015 và Tập đoàn xuyên quốc gia sau năm 2020. Nếu thực hiện được mục tiêu nói trên là niềm tự hào lớn đối với Tập đoàn, trong đó vùng mỏ Quảng Ninh, nơi chiếm trên 95% sản lượng than của toàn ngành mà các đồng chí lãnh đạo TKV đã từng nói, là phát triển sản xuất kinh doanh đa ngành của Tập đoàn trên cơ sở từ cái gốc khai thác than ở vùng mỏ Quảng Ninh.
Cơ hội tạo đà phát triển vươn lên là thế, nhưng để duy trì nhịp độ tăng tốc khai thác than được ổn định lâu dài đối với TKV không phải không có những khó khăn thách thức, cần sớm khắc phục. Đó là do nhiều thập kỷ khai thác nên nguồn than đang cạn kiệt dần và đã đến giai đoạn phải xuống sâu, vấn đề xử lý môi trường, nơi tập kết đổ thải đất đá ở các mỏ lộ thiên cũng còn có những bất cập. Khâu thăm dò địa chất (TDĐC) cũng đang là vấn đề bức xúc, cấp bách, cần phải được quan tâm nhiều hơn. Bởi lẽ, TDĐC có vị trí rất quan trọng, bao giờ cũng phải đi trước một bước xác định trữ lượng và chất lượng than ở từng khu vực. Trên cơ sở đó xây dựng các báo cáo địa chất để cung cấp cho đơn vị sản xuất than tiến hành quy hoạch và lựa chọn công nghệ khai thác than cho phù hợp. Do vậy việc đòi hỏi thăm dò phải đạt độ chính xác cao nhằm tăng độ an toàn trong quá trình khai thác than, giảm tổn thất tài nguyên mới đem lại hiệu quả kinh tế.

Nhớ lại thời kỳ còn bao cấp, kể cả những năm tháng phải đối mặt với chiến tranh chống Mỹ, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, nhưng Đảng và Nhà nước vẫn quan tâm đầu tư lớn cho công tác TDĐC. Trong quá trình đầu tư đã thực hiện khoan thăm dò 1,4 triệu mét. Nhưng sau hơn 10 năm địa chất biên chế vào ngành Than, mặc dù đã được quan tâm bằng việc huy động vốn tập trung của ngành dành cho đầu tư thăm dò các khu mỏ mới và vốn trong giá thành do các đơn vị sản xuất than bỏ ra để đầu tư thăm dò tỉ mỉ xác định trữ lượng tài nguyên khu vực quản lý, nhưng mức đầu tư này vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu nên mới chỉ đạt được trên 300 nghìn mét khoan thăm dò, trong khi đó sản xuất than ngày càng tăng tốc nâng sản lượng. Năm đầu thành lập Tổng Công ty, ngành Than mới khai thác được hơn 6 triệu tấn than, đến nay sau 12 năm sản lượng than đã tăng gấp 7 lần. Sự tăng trưởng của ngành Than có nhiều lý do như: Đầu tư công nghệ hiện đại, mở các mỏ mới... Trong đó có yếu tố phải kể đến là được hưởng lớn nguồn tài nguyên đã được xác định qua tư liệu địa chất mà Nhà nước đã bỏ vốn ngân sách đầu tư thăm dò ở vùng mỏ Quảng Ninh.

Chúng tôi được biết, hướng chiến lược và mục tiêu phát triển nhanh ngành Than để đáp ứng với nhu cầu trong nước góp phần đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia nên đã dự kiến đến năm 2010 đạt 47-50 triệu tấn than; năm 2015: 50-55 triệu tấn; năm 2020: 50-60  triệu tấn; năm 2025: 70-75 triệu tấn. Định hướng phát triển nói trên là cần thiết, nhất là những năm tới khi các dự án nhiệt điện, sản xuất xi măng có công suất lớn trên địa bàn đi vào hoạt động thì sức tiêu thụ của các hộ này cũng cần tới 14-15 triệu tấn than/năm. Nhưng để có được bước tăng trưởng lớn như vậy, nếu khâu TDĐC không đủ mạnh thì cũng khó thực hiện được.

Qua quá trình nghiên cứu tổng hợp tài liệu của nhiều thế hệ các nhà địa chất dự báo cho thấy, địa tầng chứa than của bể than Quảng Ninh có diện tích rộng khoảng 1.448km bao gồm hai dải than lớn. Dải Bảo Đài dài 33 km, rộng trung bình 5km, dải Phả Lại - Kế Bào dài 113,3km, rộng 5-11km. Với bể than Quảng Ninh nếu xuống sâu tới -1.000m có trữ lượng trên 10 tỷ tấn than. Từ mức sâu -300m trở lên có 3,6 tỷ tấn, điều đó cho thấy trữ lượng than ở Quảng Ninh còn rất lớn. Than ở Quảng Ninh có nhiệt lượng cao, chủ yếu là than Antraxít mà khách hàng nước ngoài ưa chuộng. Những năm qua, Công ty Địa chất mỏ - TKV đã nỗ lực cố gắng hoàn thành vượt mức nhiệm vụ được giao là đã thi công hàng chục lỗ khoan sâu từ trên 300m đến 1200m. Nhưng với diện rộng như vậy cũng không thể điều tra đánh giá được chính xác tiềm năng than dưới mức -300 ở bể than Quảng Ninh. Chính vì việc đầu tư chưa có bước ‘’đột phá’’ nên các diện tích thăm dò tỉ mỉ và thăm dò khai thác mới chỉ thực hiện được ở mức đã và đang tiến hành ở mức -150m, còn từ mức -150m đến -300m phần lớn mới được thăm dò sơ bộ. Một số mỏ như Mông Dương, Nam Mẫu tính từ mức -150m đến mức -300m mới đạt ở mức tìm kiếm đánh giá.

Từ thực trạng nói trên cho thấy, để đáp ứng yêu cầu tăng sản lượng than trong giai đoạn 2008 đến 2025, đồng thời đảm bảo cho sự phát triển đi lên của ngành Than luôn ở thế ổn định và bền vững thì trước hết cần phải đầu tư thăm dò khai thác cho các mỏ có đủ trữ lượng than dự trữ được xác định chủ yếu ở cấp chắc chắn, sai số cho phép nhỏ, tạo điều kiện thuận lợi cho các Công ty thực hiện kế hoạch sản xuất than hàng năm. Mặt khác, đẩy mạnh công tác thăm dò sơ bộ, thăm dò tỉ mỉ đến mức -300 và xuống mức sâu hơn ở những khoáng sàng có triển vọng. Thăm dò nâng cấp trữ lượng than kết hợp với công tác nghiên cứu các điều kiện kỹ thuật khai thác mỏ để bổ sung đưa vào thiết kế khai thác, đồng thời tạo thêm phần trữ lượng địa chất cần thiết gối đầu cho công tác quy hoạch phát triển ngành Than sau năm 2025. Chưa kể cũng cần tiếp tục đầu tư cho công tác điều tra, thăm dò địa chất vào các khối địa chất địa tầng chứa than chưa được đầu tư thăm dò hoặc đầu tư thăm dò còn ít chưa đủ điều kiện đánh giá rõ tiềm năng tài nguyên than.

Được biết, để đáp ứng cho chiến lược phát triển của ngành, TKV đã điều chuyển các đơn vị làm nhiệm sản xuất địa chất về Tập đoàn. Tuy vậy, vẫn phải có mô hình tổ chức phù hợp, phát huy tối đa năng lực của các đơn vị địa chất để đáp ứng được nhu cầu trong nước và vươn tầm khu vực, quốc tế. Tin rằng khi đã có mô hình tổ chức đủ mạnh đối với khâu TDĐC và được đầu tư tương xứng thì không những việc thực hiện giai đoạn 1 điều tra, đánh giá tiềm năng than dưới mức -300 ở bể than Quảng Ninh đảm bảo đúng tiến độ theo Quyết định số 234/QĐ-TTg, ngày 15-2-2007 của Thủ tướng Chính phủ mà còn có những báo cáo địa chất phục vụ cho các mỏ đang trong giai đoạn ‘’đột phá’’ xuống sâu, góp phần quan trọng cho ngành Than tăng sản lượng hàng năm được ổn định lâu dài.

Cùng chuyên mục