Thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân (Nghị quyết 68), thời gian qua, các ngành, các cấp trong toàn tỉnh đã đẩy mạnh cải cách TTHC, tạo thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp thực hiện giải quyết TTHC.
Nghị quyết 68 với mục tiêu đến năm 2030, phấn đấu có 2 triệu doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế, 20 doanh nghiệp hoạt động/nghìn dân. Có ít nhất 20 doanh nghiệp lớn tham gia chuỗi giá trị toàn cầu; tốc độ tăng trưởng bình quân của kinh tế tư nhân đạt khoảng 10 - 12%/năm, cao hơn tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế; đóng góp khoảng 55 - 58% GDP, khoảng 35 - 40% tổng thu ngân sách nhà nước, giải quyết việc làm cho khoảng 84 - 85% tổng số lao động; năng suất lao động tăng bình quân khoảng 8,5 - 9,5%/năm; góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu của Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị và các chủ trương, đường lối khác của Đảng; trình độ, năng lực công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số thuộc nhóm 3 nước đứng đầu ASEAN và nhóm 5 nước đứng đầu khu vực châu Á...
Để thực hiện mục tiêu trên, bên cạnh những nhiệm vụ giải pháp quan trọng, Nghị quyết 68 đã ghi rõ nhiệm vụ, tạo mọi thuận lợi doanh nghiệp trong giải quyết TTHC; phân công, phân cấp, phân nhiệm rõ ràng giữa các cấp, ngành của từng cơ quan, đơn vị, xác định rõ trách nhiệm người đứng đầu trong giải quyết thủ tục hành chính. Xử lý nghiêm các hành vi tham nhũng, trục lợi cá nhân, nhũng nhiễu của cán bộ, công chức; đồng thời, có cơ chế miễn trừ trách nhiệm đối với trường hợp đã thực hiện đầy đủ các quy trình, quy định liên quan, không tư lợi trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, nhưng có thiệt hại do rủi ro khách quan.
Để thực hiện nhiệm vụ của Nghị quyết, thời gian qua tỉnh Quảng Ninh đã có nhiều giải pháp cải cách TTHC, tạo mọi điều kiện cho doanh nghiệp giải quyết TTHC.
Hiện nay, tổng số TTHC liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn toàn tỉnh Quảng Ninh là 1.029TTHC (đạt 45,7%). .Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh đã phối hợp với các sở, ngành rà soát, cắt giảm còn 709/1.029 TTHC liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh (đạt 69%), có những thủ tục có tỷ lệ cắt giảm thời gian giải quyết đạt 37%. Đồng thời, chuẩn hóa quy trình giải quyết và thực hiện số hóa 100% hồ sơ TTHC đủ điều kiện theo quy trình 5 bước trên môi trường điện tử, gắn với sử dụng chữ ký số điện tử trong toàn bộ quy trình và nâng cao tỷ lệ số hóa hồ sơ, kết quả giải quyết TTHC.
Ông Lê Như Thiều, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh chia sẻ: Trước khi có Nghị quyết 68 tỉnh Quảng Ninh đã tạo môi trường thuận lợi rất tốt cho các doanh nghiệp. Sau khi có Nghị quyết 68 tỉnh Quảng Ninh đã tiếp tục tích cực và quyết tâm trong việc cải cách TTHC và tạo môi trường kinh doanh thuận lợi hơn cho doanh nghiệp. Đặc biệt Trung tâm Phục vụ Hành chính công tỉnh và các Sở, ban, ngành đã thực hiện toàn bộ các TTHC toàn trình và giúp giảm thời gian 30-50% thời gian theo quy định và các doanh nghiệp có thể kiểm tra được toàn bộ hồ sơ của mình trong quá trình xử lý của các cơ quan hành chính nhà nước. Trong thời gian tới, chúng tôi rất mong là các cơ quan hành chính nhà nước tiếp tục thực hiện số hóa quy trình, làm sao cho các doanh nghiệp được giải quyết TTHC hoàn toàn thực hiện trên môi trường mạng, để thực hiện một lần trình có thể sử dụng được nhiều lần.
Để tạo điều kiện để doanh nghiệp thuận lợi hơn trong giải quyết TTHC, Trung tâm Phục vụ Hành chính công tỉnh tiếp tục phối hợp với các sở, ngành rà soát, chuẩn hóa quy trình giải quyết và thực hiện số hóa 100% hồ sơ TTHC đủ điều kiện theo quy trình 5 bước trên môi trường điện tử, gắn với sử dụng chữ ký số điện tử trong toàn bộ quy trình và thường xuyên phối hợp với các sở, ban, ngành, địa phương triển khai nâng cao tỷ lệ số hóa hồ sơ, kết quả giải quyết TTHC; tiếp nhận TTHC không phụ thuộc vào địa giới hành chính; tổ chức tiếp nhận hồ sơ TTHC tại vùng có khoảng cách xa trung tâm vào ngày thứ 2, thứ 5 hằng tuần.
Những thuận lợi từ việc đơn giản hóa thủ tục hành chính, giúp doanh nghiệp đẩy mạnh đầu tư, sản xuất và mở rộng thị trường tiêu thụ. Qua đó, doanh nghiệp phát triển đưa kinh tế tư nhân trở thành động lực quan trọng, đóng góp khoảng 40-45% trong GRDP của tỉnh.