Trong quá trình phát triển, văn hóa biển, văn hóa Phật giáo, văn hóa công nhân mỏ và văn hóa các dân tộc thiểu số miền núi đã hội tụ, giao thoa, tiếp biến ảnh hưởng lẫn nhau, làm giàu cho mạch nguồn văn hóa Quảng Ninh.
Được ví như một hình ảnh thu nhỏ của đất nước, Quảng Ninh sở hữu cấu trúc địa lý vô cùng đặc biệt khi ôm trọn cả núi non hùng vĩ, đồng bằng trù phú, biên cương đất liền và biển đảo bao la. Vị thế chiến lược nơi địa đầu Đông Bắc không chỉ biến vùng đất này thành cửa ngõ giao thương phồn thịnh, mà còn là cái nôi bồi tụ những lớp trầm tích lịch sử văn hóa ngàn đời.
Trải qua bao thăng trầm của thời gian và những biến thiên của lịch sử, Quảng Ninh đã trở thành nơi gặp gỡ của những dòng chảy văn hóa đa tầng, đa sắc, kết tinh nên một bản sắc độc đáo vừa trầm mặc vừa hào hùng và khoáng đạt.
Mạch nguồn văn hóa biển
Mạch nguồn văn hóa ấy khởi nguồn từ chiều sâu thăm thẳm của thời gian, nơi từng ghi dấu bước chân của những cư dân tiền sử. Từ nền văn hóa Soi Nhụ, Cái Bèo cho đến văn hóa Hạ Long rực rỡ, các cuộc khai quật khảo cổ đã chứng minh sự thích ứng phi thường của người Việt cổ khi chuyển dần từ không gian hang động ra khai phá biển đảo, tạo lập nên một trong những nền văn hóa biển sớm nhất khu vực.
PGS.TS. Tống Trung Tín, Chủ tịch Hội Khảo cổ học Việt Nam, cho biết: "Tại Quảng Ninh, các nhà khoa học đã phát hiện ra 3 nền văn hoá tiền sử nối tiếp nhau phát triển hơn vạn năm. Đó là văn hoá Soi Nhụ, văn hoá Cái Bèo và văn hoá Hạ Long. Trong đó, văn hoá Hạ Long độc đáo, có nhiều giá trị. Từ năm 1939, nhà khảo cổ học người Thuỵ Điển là J. G Andersson đã phát hiện và khai quật di chỉ Ngọc Vừng và gọi đó là di chỉ Đanh-Đô-La để gọi tên cho loại hình di tích này. Di chỉ Ngọc Vừng sau này được xác định là thuộc văn hoá Hạ Long".
Tiếp nối mạch nguồn văn hóa biển thời tiền sử là trang sử giữ nước hào hùng vùng cửa biển Bạch Đằng giang lừng lẫy qua ba lần đánh tan quân xâm lược phương Bắc, hay thương cảng Vân Đồn sầm uất từ thời Lý - Trần. Những bãi cọc gỗ, những di tích đền đài cổ kính bên bờ sóng gió đến nay vẫn hiện hữu như biểu tượng bất diệt cho ý chí độc lập và tinh thần tự chủ của dân tộc.
GS.TS. Nguyễn Quang Ngọc, Phó Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, cho rằng: "Văn hoá biển Hạ Long có sức sống mãnh liệt. Ở vịnh Hạ Long, các giá trị càng được nhân lên trong những điều kiện mới. Ví dụ như trong thời Lý Trần chẳng hạn hay đầu thời độc lập đã tạo ra sức sống Bạch Đằng, truyền thống Bạch Đằng tạo ra cội nguồn sức mạnh cho dân tộc ta đánh bại các đại đế chế hùng mạnh trên thế giới sang xâm lược nước ta. Sau này, đến các giai đoạn tiếp theo, vùng biển này luôn hội tụ sức mạnh cả dân tộc. Vì thế mà để lại khối lượng di sản rất đồ sộ".
Từ cuộc sống thích ứng với biển cả, ngư dân hình thành nhu cầu được bày tỏ tâm tư, tình cảm của mình đối với biển cả, với quê hương cũng như những người thân yêu, dẫn tới sự ra đời của các sáng tác văn nghệ dân gian về biển. Các sáng tác dân gian của cư dân ven biển khá đa dạng, từ các truyền thuyết, truyện cổ tích của cư dân ven biển, đến hò vè rồi nghệ thuật biểu diễn, như: Hát giao duyên trên vịnh Hạ Long (còn gọi là hát chèo đường), hát đúm, hò biển.
Nhiều di sản văn hóa phi vật thể của di sản văn hóa biển đảo được lồng ghép làm cho các lễ hội miền biển thêm sinh động, như: Lễ hội cầu ngư Tân An, lễ hội Tiên Công, lễ hội đền Bà Men, lễ hội đình Giang Võng - Trúc Võng, lễ hội truyền thống Vân Đồn, lễ hội đình Đầm Hà, lễ hội đình Trà Cổ v.v.. Lễ hội ở vùng biển chứa đựng nhiều giá trị văn hóa độc đáo, đặc sắc, mang đậm hơi thở cuộc sống của người dân vùng biển Việt Nam nói chung.
Đa dạng sắc màu văn hóa các dân tộc
Bên cạnh chiều sâu triết học, bức tranh văn hóa Quảng Ninh còn rực rỡ sắc màu nhờ sự chung sống hòa thuận của các dân tộc anh em. Theo thống kê, Quảng Ninh có 43 thành phần dân tộc, trong đó, dân tộc Kinh chiếm 87,69% dân số toàn tỉnh và 42 thành phần dân tộc thiểu số với trên 162.000 người, chiếm 12,31%, sinh sống chủ yếu ở địa bàn các địa phương miền núi, biên giới.
Cụ thể, dân tộc Dao có số dân đông nhất trong 42 thành phần dân tộc thiểu số là 73.591 người, chiếm 5,57% dân số toàn tỉnh, chiếm 45,3% dân số dân tộc thiểu số của tỉnh, gồm 3 nhánh Dao Thanh Y, Lô Gang và Thanh Phán. Dân tộc Tày có 40.704 người, chiếm 3,08% dân số toàn tỉnh, chiếm 25% dân số dân tộc thiểu số. Dân tộc Sán Dìu có 20.899 người, chiếm 14,60% dân tộc thiểu số toàn tỉnh. Dân tộc Sán Chay (gồm 2 nhánh Cao Lan và Sán Chỉ) có 16.346 người, chiếm 11,3% dân số dân tộc thiểu số toàn tỉnh. Dân tộc Hoa có 5.503 người, chiếm 3,8% dân số dân tộc thiểu số toàn tỉnh.
Bên cạnh những tộc người có dân số đông, ở Quảng Ninh còn có trên 30 thành phần dân tộc thiểu số khác đã đến cư trú, làm việc ổn định, sinh sống đan xen từ nhiều thập kỷ nay như: Dân tộc Nùng có 2.150 người, Mường có 1.390 người, Thái có 1.560 người, H’Mông có 1.151 người và các dân tộc có số dân dưới 200 người như: Cờ Lao, Chơ Ro, Co, Cống; Khmer, Khơmú, K’Ho (Cờ Ho), Ê đê, Pà Thẻn, Hà Nhì, Lào, Lự, La Chí, La Hủ, La Ha, Lô Lô, Phù Lá, Bố Y, Pu Péo, Vân Kiều, Xơ Đăng, Xinh Mun, Kháng, Tà Ôi, Hrê, Mnông, Gia Rai, Giáy, Giẻ Triêng, Ngái, Thổ, Raglay.
Các dân tộc thiểu số ở Quảng Ninh phân bố, cư trú trên địa bàn 54 xã, phường, đặc khu của tỉnh. Lịch sử cư trú lâu đời tại Quảng Ninh, các tộc người quần cư thành cộng đồng làng, xã, lưu truyền văn hóa truyền thống. Cư dân sinh sống trong các thôn, xã, bản làng, biết khai phá làm ruộng bậc thang để canh tác nông nghiệp, trồng cây công nghiệp, ngư nghiệp.
Mỗi dân tộc Quảng Ninh đều có một bản sắc văn hóa khác nhau, nhưng đều có một nét chung là lao động cần cù, chịu khó, phát huy thế mạnh truyền thống xây dựng vùng sâu, vùng xa, vùng hải đảo - những nơi khó khăn nhất của tỉnh. Đồng bào các dân tộc Quảng Ninh có đặc trưng về canh tác nông nghiệp, kinh tế tự nhiên, kinh tế phụ gia đình, phương tiện vận chuyển, nhà ở, trang phục, đồ gia dụng, công cụ lao động sản xuất truyền thống, nếp ăn, nếp ở, cách ăn mặc, tập tục chu kỳ đời người, tín ngưỡng, phong tục, lễ hội, văn học nghệ thuật dân gian...
Từ Bình Liêu, Ba Chẽ, Tiên Yên ngân vang điệu Soóng Cọ của người Sán Chỉ, hát Pả Dung của người Dao, câu Soọng Cô của người Sán Dìu, tiếng Then đàn Tính của người Tày cho đến lễ cấp sắc trang nghiêm của đồng bào Dao. Tất cả hòa quyện thành bản giao hưởng mộc mạc của núi rừng.
Theo TS. Trần Quốc Hùng, giảng viên Học viện Dân tộc, văn hoá các dân tộc ở Quảng Ninh nổi bật ở tính đa dạng nhưng vẫn gắn kết chặt chẽ với môi trường sinh thái miền núi, trung du và ven biển. Mỗi tộc người như Dao, Tày, Sán Dìu, Sán Chay… đều lưu giữ kho tàng phong tục, tiếng nói, dân ca, tri thức dân gian rất đặc sắc. Điểm chung là tính cộng đồng bền chặt, đời sống văn hoá gắn với lao động sản xuất và tín ngưỡng bản địa. Khi đặt trong tổng thể cùng văn hoá công nhân mỏ và văn hoá biển, nó đã tạo nên một bức tranh vừa truyền thống vừa hiện đại, vừa bản địa vừa mở. Chính sự đan xen này làm nên bản sắc riêng, giàu sức sống của văn hoá Quảng Ninh.
Có rất nhiều hiện tượng văn hóa ở Quảng Ninh cho thấy sự giao thoa văn hóa miền biển và miền núi như: Sự di cư của nhóm người Tày từ Bình Liêu xuống ven biển Đầm Hà, việc kết hôn giữa người miền núi và người miền biển, việc giao lưu kinh tế vùng miền giữa đồng bào dân tộc miền núi với cư dân ven biển, chuyện Đức ông Hoàng Cần quê ở miền biển nhưng hành trạng và chiến công lại ở miền núi, lễ hội Bàn Vương ở miền núi Ba Chẽ cũng có hội bơi thuyền tái hiện hành trình vượt biển v.v..
Không gian văn hóa tâm linh
Hòa vào khí phách non sông là đỉnh cao của tư tưởng và mạch nguồn tâm linh thuần Việt trên non thiêng Yên Tử. Vào thế kỷ XIII, Đức vua Trần Nhân Tông đã từ bỏ ngai vàng rực rỡ để về đây tu hành, sáng lập nên Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử - dòng thiền thấm đượm tinh thần nhập thế với triết lý “Cư trần lạc đạo”.
Trong dòng chảy văn hoá dân tộc, Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử có một vị trí đặc biệt. Sự ra đời Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đã góp phần cổ vũ tinh thần người dân nước Việt về khả năng phát triển những giá trị văn hoá bản địa, nội sinh trong lòng dân tộc. Đây cũng chính là sự đáp ứng nhu cầu đời sống tâm linh, tín ngưỡng của mỗi cộng đồng người ở từng thời đại, giai đoạn lịch sử cụ thể.
Tư tưởng hòa quang đồng trần của Trúc Lâm để lại không đưa con người trốn tránh cõi trần mà gắn chặt việc tu dưỡng đạo đức với trách nhiệm bảo vệ giang sơn và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân. Cùng với quần thể di tích chùa chiền, am tháp, lăng mộ gắn với nhà Trần tại Đông Triều xưa, dải không gian văn hóa tâm linh ở Yên Tử đã tạo nên một trục tựa vững chắc, nâng đỡ đời sống tinh thần của biết bao thế hệ người dân đất Việt.
Cũng theo PGS. TS. Tống Trung Tín, Yên Tử là một bài học, một tấm gương về con người sống với thiên nhiên, bảo vệ thiên nhiên, hình thức cư trú của giáo phái Trúc Lâm gắn bó chặt chẽ với cảnh quan của núi rừng Yên Tử. Đó là các di tích do con người sáng tạo ra ở đây với những kiến trúc Phật giáo nhỏ nhẹ, đa dạng, địa thế linh hoạt, gắn bó chặt chẽ với thiên nhiên và thể hiện rõ tư tưởng của Thiền phái Trúc Lâm.
Đậm đà bản sắc văn hóa công nhân mỏ
Không chỉ có văn hóa truyền thống ngàn xưa, dải đất Quảng Ninh còn sinh ra một mạch nguồn văn hóa công nghiệp độc nhất vô nhị là văn hóa công nhân mỏ. Hình thành từ cuối thế kỷ XIX dưới ách áp bức của chế độ thực dân, những người phu mỏ từ khắp các miền quê đồng bằng Bắc Bộ tụ hội về đây mang theo văn hóa của cố hương.
Chính trong đời sống lao động gian khổ, tinh thần "Kỷ luật và Đồng tâm" đã được tôi luyện qua máu lửa, trở thành phương châm sống bất diệt. Giá trị ấy đã vượt ra khỏi phạm vi của một cuộc đấu tranh để thấm sâu vào máu thịt, hun đúc nên tính cách người Quảng Ninh luôn bộc trực, kiên cường, nghĩa tình và sẵn sàng đùm bọc, sẻ chia.
Văn hóa Quảng Ninh thể hiện đậm nét sắc thái vùng Đông Bắc Tổ quốc, là sản phẩm của sự giao lưu, hội tụ, kết hợp giữa văn hóa bản địa và văn hóa các vùng miền. Vốn là vùng biên giới, cách xa trung tâm, giao thông đường thủy là chủ yếu nên xưa kia Quảng Ninh là điểm đến cho những người có lối sống phóng khoáng, tự do.
Đầu thế kỷ XX, các chủ mỏ Pháp về các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ mộ phu. Phần lớn những người nông dân đó đã định cư lâu dài, hình thành một tầng lớp xã hội mới, đông đảo là đội ngũ công nhân mỏ. Các thế hệ thợ mỏ nối tiếp xây dựng quê hương Quảng Ninh, tạo sự đa dạng về văn hóa cho Quảng Ninh.
Trong bức tranh đa dạng đó, văn hóa công nhân mỏ là nét văn hóa riêng có, là bản sắc đặc trưng nhất của Quảng Ninh, không lẫn so với những nơi khác. Trong các giá trị văn hóa phi vật thể của công nhân mỏ, có thể khẳng định giá trị cốt lõi nhất, làm nên đặc trưng của ngành Than là tinh thần “Kỷ luật và Đồng tâm”.
PGS.TS. Nguyễn Toàn Thắng, nguyên Viện trưởng Viện Văn hoá và phát triển, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, nhận định: “Quảng Ninh là địa chỉ đỏ nơi hình thành giai cấp công nhân. Giá trị hết sức đặc biệt là tinh thần "Kỷ luật và Đồng tâm" muôn người như một đã kết tinh ở nơi đây, tạo ra sức mạnh đặc biệt của người thợ mỏ, của nhân dân Quảng Ninh nói chung”.
Truyền thống công nhân Vùng mỏ bất khuất, kiên cường, cương trực... là đặc điểm chung của người Quảng Ninh hiện đại. Phong cách, lối sống tự chủ, nhanh nhẹn, năng động của đội ngũ công nhân mỏ đã tác động đến sự hình thành, phát triển văn hóa Quảng Ninh. Đó là cơ sở để Quảng Ninh tập hợp được lực lượng nòng cốt ưu tú trong phong trào chống thực dân phong kiến, tạo nên sức mạnh nội lực chống giặc ngoại xâm và xây dựng đất nước thời hòa bình.
Ngày nay, trong công cuộc đổi mới và chuyển dịch phát triển từ "nâu" sang "xanh", Quảng Ninh tiếp tục khơi thông những dòng chảy di sản để biến văn hóa thành nguồn lực nội sinh mạnh mẽ. Sự hòa quyện giữa cảnh quan thiên nhiên kỳ vĩ, trầm tích lịch sử hàng nghìn năm và cốt cách hào sảng của con người đã tạo nên bệ phóng vững chắc cho vùng đất này. Những mạch nguồn văn hóa ấy chưa bao giờ ngưng nghỉ, mà vẫn đang cuộn chảy miệt mài, bồi đắp sức sống và khí phách để Quảng Ninh tự tin vươn mình ra biển lớn.