(Đọc "Trăng màu hổ phách", Cao Nguyệt Nguyên, NXB Văn hoá Văn nghệ, 2015)
Một cuộc hạnh ngộ “Trăng màu hổ phách” như hương trời vấn vít giữa tầng không, đẩy sáng tạo đến biên độ của mộng mơ nguyên lành và cả những sự thật đắng cay. Cao Nguyệt Nguyên, một nhà văn trẻ thuộc thế hệ 9X, đã tạo nên một thế giới nhân vật của mình như thế trong tập truyện ngắn đầu tay “Trăng màu hổ phách”. 11 truyện ngắn, 11 mảnh ghép của khối rubic đa sắc màu nhưng cùng hướng về một cực điểm: Vết sẹo thân phận người. Một Bống đầy khao khát rồi lạc bước trong “Lạc khúc”, là Ràng đau đớn về mối tình không vẹn toàn với Mái “Trên đỉnh Chumpua” giá lạnh, đơn côi; là Khoa quỷ dở người, quằn quại trong cơn mê hoan lạc của “Mùa quỷ hành”, là Tuyến vỡ nát của vầng trăng trinh suốt trong một gia đình rối như canh hẹ của “Trăng màu hổ phách”, là Thuý bơ vơ, lạc lõng giữa sự lựa chọn của người mẹ đứt gánh trong “Sóng ô đầu”, là Dín và Súa đầy mất mát thời hậu chiến trong “Đảo mây và bồ câu xám”...
Người đọc cảm nhận sự xáo trộn của những vùng quê hẻo lánh bởi những “lột xác” cố tình, đi ngược lại những giá trị truyền thống. Trong “Hương trời”, nhân vật Hà, dù chỉ là con nuôi của ông Nhẫn, người làm trà sen nổi tiếng, ra sức bảo vệ ao sen và nghề gia truyền vốn dĩ rất kén người chế biến. Vậy nhưng, người con trai ruột duy nhất của ông Nhẫn lại cứ chực bán đất, bán ao sen để lấy tiền làm việc khác. Một thái độ phản ứng cương mãnh, quyết bảo vệ từng gốc sen của người gìn giữ nghề cổ truyền đã gắn bó như máu thịt. Tinh thần ấy của ông Nhẫn và Hà cuối cùng đã bảo vệ được ao sen, nghề làm trà sen, sau này khi ông Nhẫn mất người con ruột thức tỉnh, đã nhường phần nghề và ao sen lại cho Hà. Dù là một kết thúc có hậu nhưng đã gióng lên hồi chuông như “tiếng thở đau đớn của hương trời” trong các làng quê Việt Nam bây giờ giữa tân và cựu, giữa lợi ích vật chất và giá trị truyền thống.
“Tinh đất xóm Điều” tiến xa hơn một bước sự thoái hoá nghiêm trọng của đạo đức ở làng xã trong một gia đình đầy nứt vỡ. Bà Loan, một cụ già neo đơn dù có con cái đề huề nhưng vẫn bị lão Gạc (con rể), bà Mùi (con gái) bỏ rơi, chẳng thèm đếm xỉa ở một làng quê được mệnh danh “Cái đất chó ăn đá gà ăn sỏi bao năm nay”. Tác giả đã đẩy câu chuyện lên đỉnh điểm của cái rởm đời, thối nát ngay trong chính tình thân nội gia, tiền bạc đã xoá đi mọi ranh giới của trách nhiệm, yêu thương. Mọi giá trị bị đảo lộn trong truyện ngắn “Tinh đất xóm Điều”, một sự thoái hoá có tiến trình của một gia đình, một bộ mặt làng quê trước làn sóng đầy uy lực của đồng tiền.
“Trăng màu hổ phách” như một bài giao hưởng đầy thăng, gián và cuối cùng, những nốt trầm đã thống trị chua cay. Hiện thực chua xót qua cách kể của Cao Nguyệt Nguyên như một ngọn nến ảo mị trước cơn bão tố nhân sinh. Cái đau của “Trăng màu hổ phách” diễn tiến êm đềm như ánh trăng chiếu rọi lên giọt nước mắt phũ phàng, cay đắng, chạm tới ước vọng của người đọc bằng hấp lực của nghệ thuật, mà ở đó chúng ta thật sự sống trong một thế giới của những con chữ có tánh linh, đủ mạnh mẽ để lôi ta vào sự hư cấu đầy mê dụ.
“Đảo mây và bồ câu xám” - hành trình mộng mơ của một bi kịch diễn tiến trong mây, trong sương, trong nguyên thuỷ nỗi đau. Hai chị em Dín, Súa - hai sản phẩm đầy lỗi của hoá công, chịu nhiều thiệt thòi từ sự di truyền của “chứng nhận nhiễm chất độc da cam” mà cha các cô không may nhiễm phải. “Ba cái hình hài méo mó” đã ra đời của Súa và “những hình hài thiếu hụt” hãy còn ám ảnh của Dín đã thúc đẩy cho sự lựa chọn sống trên đảo mây, với hàng hoa biêng biêng trắng để quên đi cuộc người xuôi ngược dưới kia. Còn Dín bất chấp tất cả, cô muốn được làm người phụ nữ trọn vẹn, viên mãn như bao người khác, như ước mơ, như bản năng giống loài, cá tính phái. Cô được làm mẹ như ý nguyện nhưng lại đi vào vết xe đổ của chị để rồi phải quằn quại với 5 chữ mà không người mẹ mang nặng đẻ đau nào muốn: “Không phải con của tôi”. Tác giả đã gửi nỗi buồn vào mây, vào núi, vào tượng Đức Mẹ, vào cánh chim bồ câu réo gọi hoà bình giờ nức nở với kết cục của nước mắt thời hậu chiến.
Những số phận méo mó thay nhau xuất hiện trên từng trang viết của Cao Nguyệt Nguyên, càng đọc càng cay, càng đắng. Tác giả đi vào gan ruột của nhân vật để lôi lên biết bao chuyện đau lòng, bao ẩn ức giấu kín và bao oan khiên chờ ngày chiêu tuyết. Tính tự sự trong truyện ngắn Cao Nguyệt Nguyên rất lớn và đó là một hướng đi khả dĩ. Cái bị loại trừ, xoá bỏ của Cao Nguyệt Nguyên trong sáng tạo của mình chính là nặn ra những con người có trái tim đá, tình yêu là xa xỉ và thay vào đó là sự thống trị của tâm thức bản năng của xác thịt. Đọc Cao Nguyệt Nguyên để thấy rằng nhân sinh đầy biến động, méo mó, nứt vỡ đều có lý do tồn tại và rằng mỗi khoảnh khắc trôi qua của đời sống chỉ là nhịp cánh của loài chim cắt, thoắt đến thoắt đi, chỉ còn lại ngọn gió trong lành của lòng bác ái.
Lê Vũ Trường Giang (CTV)