Là một trong các hoạt động tưởng niệm 705 năm Ngày Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập niết bàn, Hội thảo “Phật giáo Trúc Lâm Yên Tử và công tác quy hoạch, bảo tồn, phát huy giá trị của KDT Yên Tử hiện nay” đã được Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức tại TP Uông Bí dịp đầu tháng 12 vừa qua. Hội thảo đã thu hút đông đảo giới chức tăng, ni, phật tử cùng nhiều nhà nghiên cứu khoa học tham gia, bàn về nhiều vấn đề liên quan, trong đó có không ít những góc nhìn mới về Phật hoàng Trần Nhân Tông...
Tôn vinh Phật hoàng
Theo nghiên cứu, phân tích của Hoà thượng Thích Thiện Nhân, Tổng Thư ký Giáo hội thì dòng tu ở Yên Tử bắt nguồn từ phái Vô Ngôn Thông. Trần Nhân Tông là đời thứ 6 phái Yên Tử nhưng ngài là Sơ tổ Trúc Lâm, đã thống nhất 3 thiền phái của Đại Việt lúc bấy giờ (gồm Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường) thành một mối duy nhất là Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, phát triển mạnh cho đến cuối nhà Trần. Thiền phái này đã biểu thị được những tính chất đặc trưng là một phái thiền thuần Việt, do người Việt tu thành chính quả lập, trụ sở đặt tại chùa Vĩnh Nghiêm (Bắc Giang). Từ đây đã góp phần tạo sức mạnh tổng hợp cho Phật giáo Việt và dân tộc ta ở thế kỷ 13, đánh bại 2 cuộc xâm lăng của quân Nguyên Mông, mở rộng bờ cõi Đại Việt đến tận Quảng Nam.
Một phân tích khác lại nhấn mạnh: “Nếu Phật giáo Ấn Độ do Tất Đạt Đa, hoàng thái tử của một vương triều sáng lập ra thì Thiền phái Trúc Lâm Việt Nam lại do một ông vua đương triều đã bỏ lại ngai vàng, vào núi Yên Tử tu hành rồi chứng ngộ thành Đệ nhất Tổ, là một nét đặc sắc ít có. Hơn thế, Trần Nhân Tông còn là một ông vua anh hùng của dân tộc, đã lên đến tột đỉnh của vinh quang, quyền uy, danh vọng nhưng sẵn sàng bỏ lại tất cả không nuối tiếc để xuất gia thoát tục, sống cuộc sống tu hành khổ hạnh, đạt đạo làm tổ một dòng thiền...”.
Giáo lý của Thiền phái Trúc Lâm vốn nổi bật tinh thần nhập thế, gắn đạo với đời, có sự dung hợp giữa 2 tính chất bác học và dân gian nên dễ dàng thấm sâu vào tâm thức của đông đảo các tầng lớp cư dân trong xã hội. Thêm nữa, vua tôi cùng theo phật giáo nên càng có tính ảnh hưởng rộng rãi trong xã hội hơn. Hoà thượng Thích Trung Hậu đã dẫn lời của Nguyễn Lang trong Việt Nam Phật giáo sử luận để lý giải về điều này: “Lấy giáo lý thập thiện (cũng là giáo lý nhập thế căn bản của đạo Phật - PV) làm cơ bản cho đạo đức xã hội, Trúc Lâm đại sỹ đã có ý muốn xây dựng một xã hội trên nền tảng luân lý của đạo Phật. Một ông vua con ngồi trên ngôi ủng hộ phật giáo. Một ông vua cha làm tăng sĩ chu du trong quần chúng, sự kiện này thật đặc biệt chưa từng có. Dù có ý thức hay không, Trúc Lâm đại sỹ cũng đã góp phần vào việc củng cố triều đại và chế độ bằng những công tác hành đạo tích cực trong dân gian...”.
Trong bối cảnh lịch sử truyền thừa của Thiền phái này, trước Trần Nhân Tông có những gương mặt khác đã đặt nền móng tư tưởng và kết nối cho Thiền phái Trúc Lâm ra đời. Nhưng Trần Nhân Tông là người có công làm cho Thiền phái này đi vào hiện thực đời sống sinh hoạt Phật giáo thiền, từ mô hình hoạt động, cơ cấu tổ chức cho đến nội dung tu tập và phương thức hành trì được cụ thể hoá. Ngài trở thành vị Tổ đầu tiên, sau đó đến Pháp Loa được ngài truyền y bát làm Tổ thứ 2 và vị Tổ thứ 3 là tôn giả Huyền Quang. Sau 3 vị Trúc Lâm Tam tổ, dòng thiền này tiếp tục tồn tại và có sức sống rất mạnh mẽ trong lòng dân tộc dù có lúc trầm lắng đi vì lẽ này, lẽ khác. Hoà thượng Thích Thiện Chân cho hay: “Kể từ khi thành lập năm 1299, Thiền phái Trúc Lâm đã phát triển cực thịnh trong thời Trần ở thế kỷ 13 và tiềm ẩn suốt gần 700 năm qua. Thiền phái đã có sự phục hoạt trong cuối thế kỷ 20, đến nay, trong cả nước đã có tới 38 cơ sở thiền viện theo tông phái Trúc Lâm và sinh hoạt đồng bộ, nhịp nhàng, đoàn kết, hoà hợp với các hệ phái khác trong lòng Giáo hội Phật giáo Việt Nam...”.
“Ngọc” không tỳ vết
Không chỉ đi sâu phân tích về dòng thiền Trúc Lâm, đặc biệt gắn với công đức của Phật hoàng Trần Nhân Tông, hội thảo đã có những kiến giải rất mới nhằm “minh oan” cho vua Trần. Đáng chú ý trong số đó là các ý kiến bàn về sự kiện vua Trần gả Huyền Trân công chúa cho vua Chăm là Chế Mân. Hoà thượng Thích Giác Toàn, Phó Chủ tịch HĐTS Trung ương Giáo hội đã cho rằng Ngô Sỹ Liên (trong Đại Việt sử ký toàn thư) thu thập các truyền thuyết trong dân gian, thiếu tính chính xác nên mới phê phán việc này. Ông phân tích: “Tháng 3-1301, Trần Nhân Tông vừa là Đệ nhất Tổ Thiền phái Trúc Lâm sang Chiêm Thành để viếng thăm và giao hảo với Quốc vương Chăm là Chế Mân, là một Thiền sư, Viện chủ Tu viện Đồng Dương rất lớn. Ý đồ chính trị nếu có của Trần Nhân Tông là hai nước sống chung hoà bình trong tinh thần Phật giáo nên hứa gả Huyền Trân cho Chế Mân, chắc chắn không có điều kiện trao đổi hôn nhân ấy với 2 châu Ô, Lý. Chế Mân hiến 2 châu này là về sau, do tự nguyện (hoặc có lập luận cho rằng do triều đình của vua Trần Anh Tông nài ép); và khi đoàn của vua Chăm sang nạp sính lễ thì Trúc Lâm đại sỹ đang hành đạo và đã là Đệ nhất tổ Trúc Lâm Yên Tử”.
Câu chuyện Huyền Trân phải lên giàn hoả thiêu sau cái chết của Chế Mân, từ đó dẫn tới chuyện tướng Trần Khắc Chung dùng thuyền nhẹ sang cướp về và cả hai lênh đênh mãi trên biển mới về quê hương chép trong cuốn sử ký này theo ông cũng là vô lý. Ông cho hay rằng, nhiều tài liệu sử của người Pháp và cả người Chăm gần đây đã chứng minh người Chăm theo chế độ mẫu hệ, không có tục vợ chết theo chồng. Trần Nhân Tông sang Chăm ở tới 8 tháng hẳn biết rõ điều này cũng như cuộc sống của 2 bà hoàng hậu Chăm rồi mới quyết định hứa gả Huyền Trân. Vua Chăm trước là Pô Rômê cũng có 3 vợ và khi mất không có ai phải lên giàn hoả cả. Chế Mân cũng là người tuấn tú, khôi ngô, da sáng; Chăm khi ấy cũng là một quốc gia cường thịnh nên gả công chúa là hoàn toàn xứng đáng. Hơn thế, tục vợ chết theo chồng chỉ 7 ngày sau đã phải tiến hành, còn đoàn thuyền của Đại Việt thì 5 tháng sau mới tới nơi, nếu Huyền Trân lên giàn hoả thì đã... thành tro từ lâu. Việc cướp công chúa và đưa về bằng thuyền nhẹ là không thể khi mà Chiêm vốn là nước hùng mạnh về thuỷ binh, từng hai lần đánh thắng đoàn thuyền của quân Nguyên Mông. Rồi danh tướng Trần Khắc Chung đức độ, tài ba; thêm nữa, Huyền Trân lúc ấy mới sinh hoàng tử, sao có thể bỏ con ở lại Chiêm để rong chơi suốt 10 tháng trên biển? Trái lại, sử Chăm chép rằng Huyền Trân ở lại Chiêm quốc hết một năm, mãn tang chồng thì được phái đoàn Chiêm quốc trịnh trọng đưa cả hai mẹ con về lại bản quốc cùng nhiều tặng vật rất phong phú...
Cũng ủng hộ quan điểm trên, GS-TS Trần Ngọc Vương và TS Trần Trọng Dương cho rằng, không có chuyện Huyền Trân được hoả táng. Bởi, theo tục lệ Chiêm thì người được hoả thân theo đức vua quá cố phải là người vợ có dòng máu hoàng gia Chăm pa. Đây cũng là niềm vinh dự mà không phải bà hoàng hậu nào cũng được nhận. Khi Chế Mân mất, Huyền Trân mới mang thai và lễ hoả thiêu nếu có sẽ phải được thực hiện trong vòng một tháng sau khi vua băng hà. Một thực tế khác là sau khi Chế Mân mất, bà Tapasi, hoàng hậu thứ 2 là người Jawa cũng đã trở về nước. Giả thuyết về việc Huyền Trân có liên quan tới cái chết của Chế Mân, dẫn tới việc liên lụy của bà theo các nhà khoa học này cũng không có cơ sở. Bởi sau đó là hàng loạt những bất lợi cho cả Huyền Trân và Đại Việt: Bà xuống tóc đi tu sau đó vài năm; mối quan hệ hoà thuận giữa Đại Việt - Chăm pa đã chấm dứt sau khi Trần Nhân Tông và Chế Mân mất... Việc Chế Mân dâng hai châu Ô, Lý cho nhà Trần cùng với việc gả công chúa Huyền Trân chỉ là hình thức thoả thuận ngoại giao giữa hai nước, để gia tăng độ quy thuận và gia tăng lòng tin của Chăm pa với nước lớn hơn là Đại Việt. Còn bản thân Chế Mân không thể tự mình cắt đất cho nước khác mà phải được hội đồng gia đình hoàng gia mẫu hệ Chăm pa chấp thuận. “Đúng hơn, dưới áp lực ngoại giao của Đại Việt, dòng họ này đã buộc phải chấp nhận một phương án mà họ không thể, hoặc không dám làm khác” - ý kiến này nhấn mạnh...
Phan Hằng