(Ông Trần Văn Hải, Chánh Thanh tra mỏ, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam, trao đổi với PV Báo Quảng Ninh).
- Có nhận định cho rằng trong các hầm lò khai thác than mà chủ yếu là ở Quảng Ninh nồng độ khí mê-tan khá cao. Ông nói gì về điều này?
+ Khí mê-tan là sản phẩm sản sinh ra trong quá trình khai thác than và luôn đồng hành cùng với quá trình khai thác, ở đâu có khai thác than thì ở đó có khí mê-tan. Vì vậy khai thác than bằng phương pháp hầm lò luôn tiềm ẩn nguy cơ tích tụ khí mê-tan cao, dễ gây ra sự cố cháy nổ, nếu không thực hiện tốt các biện pháp phòng ngừa. ở Quảng Ninh theo xếp loại của Bộ Công Thương năm 2009 có 6/22 mỏ hầm lò đang khai thác có nồng độ khí mê-tan cao. Như vậy so với số lượng các mỏ đang hoạt động là không nhiều. Đúng là thiệt hại do nổ khí mê-tan gây ra là rất lớn, ngoài thiệt hại về người, vật chất còn phải mất nhiều thời gian mới khắc phục được. Những người bị thương do sự cố cháy nổ khí mê-tan thường bị bỏng và nhiễm khí độc CO. Để giảm thiểu sự cố cháy nổ khí mê-tan, từ cuối năm 2007 (trừ ở Công ty Than Mạo Khê đã lắp đặt trước), các mỏ hầm lò thuộc TKV đã triển khai lắp đặt hệ thống giám sát tập trung tự động khí mê-tan, đặc biệt triển khai quyết liệt trong năm 2008 và đầu năm 2009. Các mỏ hầm lò được đầu tư lắp đặt và đưa vào sử dụng hệ thống giám sát tự động liên tục hàm lượng khí mê-tan 24/24h. Đến 30-6-2009, toàn Tập đoàn đã lắp đặt và đưa vào sử dụng 23 hệ thống ở 22 mỏ hầm lò (riêng Công ty than Thống Nhất lắp đặt 2 hệ thống).
- Nhận xét của ông về hệ thống giám sát tự động khí mê-tan?
+ Trước khi sử dụng công nghệ này việc kiểm soát nồng độ khí mê-tan trong hầm lò sử dụng máy đo khí cầm tay, người công nhân đo khí dùng máy đo trực tiếp hàm lượng khí mê-tan trong hầm lò theo quy phạm: Mỏ loại I + loại II đo ít nhất 2 lần/ca; mỏ loại III trở lên đo ít nhất 3 lần/ca. Ngoài ra còn đo kiểm tra khí mê-tan trước và sau khi nổ mìn. Cách đo bằng máy cầm tay kết quả phụ thuộc vào người đo. Nếu người đo có ý thức trách nhiệm cao, đo đúng quy trình, đúng các vị trí quy định thì kết quả có độ tin cậy cao; còn ngược lại người đo thiếu ý thức trách nhiệm, đo không đúng quy trình, không đúng vị trí quy định thì rất nguy hiểm. Phương pháp đo này có nhược điểm là tần suất đo ít nên việc cảnh báo không cao (2-3 lần/ca). Qua thống kê các mỏ than hầm lò và Trung tâm cấp cứu mỏ tại Quảng Ninh có khoảng 1.400 máy đo khí cầm tay, gồm 2 loại do Nhật Bản và Trung Quốc sản xuất. Đơn vị hầm lò đưa hệ thống giám sát tự động khí mê-tan vào sử dụng đầu tiên là Công ty Than Mạo Khê, sau đó là Công ty Than Thống Nhất. Ngoài Công ty Than Mạo Khê sử dụng công nghệ giám sát của Nhật Bản, các Xí nghiệp Than Cao Thắng, Cẩm Thành (Công ty Than Hạ Long) và Công ty Than Khe Chàm sử dụng hệ thống của Viện điện tử tin học thuộc Bộ Công Thương, các mỏ còn lại sử dụng thiết bị trọn bộ của Ba Lan. Mức chi phí cho một hệ thống tùy thuộc vào quy mô khai thác của từng mỏ, số lượng đầu đo phải lắp đặt, trong đó mỏ có quy mô lớn chi phí khoảng 13 tỷ đồng; mỏ nhỏ khoảng 7 tỷ đồng. Mặc dù các mỏ đều đã đưa hệ thống giám sát tập trung tự động khí mê-tan vào sử dụng nhưng việc đo kiểm tra hàm lượng khí mê-tan bằng máy đo khí cầm tay vẫn duy trì cùng với hệ thống giám sát tập trung tự động. Khi kết quả 2 phương pháp đó có độ chênh lệch lớn thì phải xem xét lại kết quả đo của từng phương pháp để xử lý kịp thời.
- Hiện nay trong nước đã chế tạo được hệ thống giám sát tập trung tự động khí mê-tan trong hầm lò. Hiện nay, ngành Than ứng dụng hệ thống này như thế nào?
+ Hiện nay tại Việt Nam mới chỉ có Viện điện tử, tin học và tự động hóa (Bộ Công Thương) sản xuất và thi công lắp đặt được hệ thống giám sát tập trung tự động khí mê-tan và đã trúng thầu ở 3 đơn vị khai thác than hầm lò thuộc TKV. Từ khi lắp đặt và đưa vào sử dụng hệ thống này vẫn hoạt động tốt, các mỏ đang sử dụng và theo dõi để đánh giá ưu, nhược điểm của hệ thống.
- Đề nghị ông cho biết hướng sử dụng các thiết bị đảm bảo an toàn cho hoạt động khai thác than của ngành Than trong thời gian tới?
+ TKV luôn đặt mục tiêu an toàn lao động lên hàng đầu. Quan điểm của lãnh đạo Tập đoàn là: đối với thiết bị an toàn, thiết bị cấp cứu của các mỏ hầm lò phải được trang bị loại hiện đại, tiên tiến nhất. Vì vậy, việc mở rộng ứng dụng công nghệ tự động cảnh báo khí mê-tan sản xuất nội địa phải chờ thời gian theo dõi, đánh giá trên cơ sở đó mới đưa ra định hướng có mở rộng hay không. Từ nay đến hết quý II-2010, TKV chỉ đạo cho đầu tư lắp đặt hệ thống giám sát tập trung tự động khí mê-tan ở những khu vực sản xuất độc lập, nhỏ lẻ còn lại ở một số mỏ.
- Xin cảm ơn ông!