(Đọc tập thơ “Mưa tạnh” (NXB Hội Nhà văn - 9/2012) của nhà thơ Lê Hường)
Người ta bảo “văn là người”, với nhà thơ Lê Hường, điều đó quá đúng! Đọc thơ ông, tôi cứ như thấy hiển hiện trước mắt cái dáng vẻ khiêm nhường, lặng lẽ của một người thích sống nội tâm; yêu đấy, nhớ đấy, day dứt đấy... Nhưng tất cả dường như cứ bị kìm nén, cứ cố giấu đi, để rồi gửi cái nỗi niềm yêu, nhớ ấy vào thơ...
Với “Mưa tạnh” (NXB Hội Nhà văn, 9-2012) cũng vậy! Đây là tập thơ thứ 5 của ông, (trước đó ông đã cho in 4 tập, gồm: Đêm trăng mùa quả chín, Sương nắng, Gõ cửa nhân gian, Rượu chát). Nhưng khác những tập thơ trước, ở tập thơ này, cái sự yêu, nhớ của nhà thơ có độ lắng của sự già dặn, từng trải. Cảm xúc của nhà thơ không còn mang tính bột phát mà nghiêng về những suy tư thế cuộc nhiều hơn. Phải chăng vì thế mà ông đã lấy tên cho tập thơ này là “Mưa tạnh”? Bởi như câu thơ ông đề ở trang cuối, coi là lời bạt cho cả tập:“Mưa mãi/ cũng phải tạnh/ chuồn chuồn/ chấp chới nắng/ bay cao”… Dường như sau những thăng trầm của cuộc đời, giờ đây nhà thơ đang hướng tới một niềm tin, niềm hy vọng về sự đổi thay, mới mẻ và tốt đẹp hơn. Chỉ có điều, với “cái chất” của nhà thơ Lê Hường, dẫu viết về cái gì, là hiện tại hay tương lai, buồn hay vui, là tình yêu hay nỗi niềm thế sự v.v.. thì cái âm hưởng chính vẫn là sự hoài niệm, hay nói cho nó văn vẻ một chút, thơ ông bao giờ cũng có gì đó lãng đãng dấu xưa...
Bạn có thể cảm nhận thấy điều đó trong rất nhiều bài in trong tập “Mưa tạnh”. Đó là nỗi niềm đau đáu khi: “Dấu chân của mẹ còn đây/ Vườn xưa ríu rít dâng đầy tiếng chim/ Bơi qua ba nổi bảy chìm/ Con về bạc tóc nhặt tìm lời ru” (Vườn xưa); là nỗi bâng khuâng pha chút nuối tiếc khi: “Thoắt thôi/ đã nửa cuộc đời/ sương pha mái tóc/ môi cười nhạt phai…” (Đường đời); là: “Ta nhớ/ mùa xưa hoa nhãn/ Môi thơm/ đôi lứa trao nhau” (Hoa nhãn) v.v.. Và đặc biệt, cái “lãng đãng dấu xưa” ấy càng ám ảnh nhiều hơn khi nhà thơ đối diện với quá khứ. Lúc ấy, “dấu xưa” không chỉ là cảm xúc hoài niệm, mà trở thành “điểm tựa” để chuyển tải những suy tư mang đầy chất triết lý về cõi người, về cuộc đời, về nhân sinh, thế sự… Nếu nói sự tinh tế khi miêu tả những cung bậc khác nhau của tình yêu đã làm nên cái hay trong những bài thơ tình của Lê Hường, thì cũng có thể nói, cái “lãng đãng dấu xưa” đã làm “mềm hoá” những câu thơ thế sự của ông, làm cho nó không còn mang tính “triết lý khô khan” nữa. Những bài thơ như Hoàng thành, Côn Sơn mây trắng, Trèo lên Vạn lý v.v.. hay, rất hay chính là như vậy! Trước Hoàng thành Thăng Long, nhà thơ như thấy: “Đâu đây/ vọng tiếng đò đưa/ dòng sông lũ xoáy gió mưa cung đình…”; thấy: “Giếng trong thăm thẳm mắt ai/ bóng rồng thời Lý bay hoài trong mơ...”; thấy: “Lưỡi đao hoen gỉ nằm trơ/ bao nhiêu máu đổ đến giờ chưa tan…”. Đó chính là những “dấu xưa” để nhà thơ cảm nhận: “Thời gian/vùn vụt nhân gian/ theo dòng lịch sử từng trang luân hồi…”. Và từ đó mà: “Hoàng thành ta đến đây rồi/ Chắp tay vái lạy cõi người vô vi…”. Từ “dấu xưa” đến “hoài niệm”, từ “hoài niệm” đến “suy tư”, từ “suy tư” đến “triết lý”… Đó là quy luật của cảm xúc, và cái quy luật ấy đã được nhà thơ thể hiện một cách nhuần nhuyễn khiến cho bài thơ có hồn, có sức thuyết phục.
Với nhiều bài thơ khác nữa, theo cách này hoặc cách khác, đều có những nét tinh tế như thế! Trong Côn Sơn mây trắng, cái “dấu xưa” được mở đầu một cách thật dung dị, tự nhiên, đến mức như trong một câu chuyện đồng dao vậy: “Mũ hia để lại quan trường/ Nguyễn Trãi về với đời thường/ làm dân…”. Còn trong Trèo lên Vạn lý, nó lại bắt đầu một cách khá bất ngờ bằng việc thể hiện “góc nhìn” (mang tính phản biện) của tác giả trước “dấu xưa”: “Ta không làm hảo hán/ là một nhà thơ thôi/ vẫn trèo lên Vạn lý/ ngại gì… đổ mồ hôi”… Để từ tâm thế ấy mà đi đến những nhận định, suy tư, những đánh giá của riêng mình: “Đau đáu bước ta đi/ mang mang hồn vô định/ con mắt những tháp canh/ ngó Trường thành… ớn lạnh!”.
Tôi nghĩ những câu thơ như thế này cho thấy một nét khác trong “cuộc hành trình lặng lẽ” của nhà thơ Lê Hường, một người mà như nhà thơ Triệu Nguyễn nhận xét, là “một bông hoa nở chậm, một trái cây chín muộn trong vườn cây hoa trái cuối mùa, lặng lẽ toả hương...”.
Hoàng Long