(Nhân đọc tập “Thơ Mai Phương”, NXB Hội Nhà văn ấn hành cuối năm 2015)
Đây là tập thơ được Hội Nhà văn tài trợ kinh phí xuất bản. Tập thơ tuyển chọn 94 bài, được coi là hay nhất trong sáng tác thơ của Mai Phương. Giọng điệu chính trong tập thơ là khuynh hướng sử thi như một khúc tráng ca cất lên sau hơn nửa thế kỷ gắn bó với Vùng mỏ.
Đọc tập thơ, độc giả dễ nhận thấy hình tượng hòn than được nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Dường như ông rất có duyên nợ với than; than vừa là tình yêu, lại vừa có vẻ giống tính cách của ông, lúc nào cũng muốn bùng cháy hết mình: “Ai yêu trời thu/ Trong xanh như ngọc/ Tôi yêu than huyền/ Mượt như mái tóc/ Tôi người thợ mỏ/ Yêu hòn than đen/ Như dòng máu đỏ/ Từ giữa buồng tim” (Tình yêu đất mỏ). Than là ngọn lửa động viên tinh thần những lúc xao lòng. Vỉa than làm vơi nỗi nhớ cố hương: “Nhìn vỉa than dày/ Thấy đồng mênh mông…”.
Định mệnh đã “bứng” Mai Phương ra khỏi cố hương Phú Yên, đặt ông vào Đất mỏ để ông như một cây xanh khoẻ mạnh sâu rễ bền gốc ở đất này mà kết lại những mùa thơ. Vì thế vùng đất rộng mở bao dung của những người thợ mỏ là nơi ông gắn bó máu thịt không thể xa lìa dù trong chốc lát. Bởi thế mới có cái hồ hởi của ngày trở lại kiểu này: “Lại trở về với ngọn núi dòng sông/ Sóng Cửa Lục con phà sang bến đón/ Nhà của ta mở tung bốn hướng/ Đón em xa. Gần gió bốn phương vào” (Trở về).
Vùng than là tình yêu lớn, còn viên than là tặng phẩm của tình yêu mà trái tim đa tình như Mai Phương lúc nào cũng muốn gửi gắm: “Chọn hòn đen láy/ Làm đoá hoa hồng/ Tặng người chung thuỷ/ Tình yêu mênh mông”. Bước chân vào lâu đài tình ái, thơ Mai Phương mạnh mẽ, quyết liệt đúng như tính cách của ông: “Người ta mơ ước Đông Tây/ Riêng tôi mong ước một ngày cùng em”.
Mai Phương bùng cháy khi viết về Đất mỏ, nồng nàn lúc viết về người Vùng mỏ. Mai Phương dành tình cảm cho nhiều nhà văn của Vùng mỏ, trưởng thành từ những sáng tác cho công nhân như: Võ Huy Tâm, Tô Ngọc Hiến, Lý Biên Cương v.v.. Nhiều bài thơ của Mai Phương có tên đất, tên người ở Vùng mỏ như: “Người Cao Sơn”, “Nhớ Hiến”, “Cầu Trới”, “Đại Yên” v.v.. Nhưng có những bài thơ không nói tên một con người cụ thể mà có thể là bất cứ ai ở đất này: “Khóc mẹ”, “Hai đứa trẻ”, “Người xưa”, “Không em”, “Gửi người tôi yêu”, “Nửa bên kia”, “Tình em”, “Chị tôi”, “Bài ca em bé” v.v..
Nhưng viết gì thì viết, nhân vật trung tâm trong thơ Mai Phương vẫn là người thợ mỏ. Trung thực, mạnh mẽ và quyết liệt, Mai Phương làm thơ về thợ mỏ như chính người thợ mỏ đi tìm vỉa than vậy. Và ông viết về thợ mỏ cũng giống như viết về chính mình: “Khi bóng tối trùm lên ngàn đảo nhỏ/ Vạn thuyền câu lạc tận bến bờ xa/ Những chiếc cuốc mang tình người thợ mỏ/ Đi khao than đem khắp mọi nhà” (Tình thợ mỏ). Mai Phương lãng mạn hoá công việc của người thợ lò: “Anh thợ lò xuyên trong lòng đất/ Yêu anh trăng cũng muốn theo vào/ Như những con ong đi tìm mật/ Cho trời quê khói toả những lò cao”. Hay như: “Mây kéo trăng theo vào lán ở/ Suối nhường tiếng máy hát trong đêm/ Đoàn xe lên dốc mang hàng nặng/ Khóm nứa say trăng lả dưới thềm” (Đêm trăng địa chất).
Đem ngọn lửa thơ, ngọn lửa than ấy lan toả rộng hơn, xa hơn nên thơ Mai Phương đến được với nhiều người, đặc biệt là người thợ. Đúng như nhận xét của nhà văn Dương Hướng: “Khắp vùng mỏ, nói tới nhà thơ Mai Phương ai cũng biết, từ ông giám đốc đến anh em thợ lò, đến các chị em nấu bếp. Đi đến đâu nhà thơ cũng được mọi người tiếp đón niềm nở. Tới nay đã ở tuổi 80 nhưng sức lực và tinh thần của nhà thơ thì lớp đàn em chúng tôi cũng không thể theo kịp”. Còn nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, thì đánh giá: “Nếu như người thợ mỏ đào sâu lòng đất để tìm những vỉa than cho Tổ quốc thì Mai Phương là người đào sâu vào tâm hồn người thợ mỏ để viết nên những trang văn đậm tính sử thi về vùng than…”.
Huỳnh Đăng