Thơ Nguyễn Bá Phú - Nhân ái và giản dị chính là sự thuyết phục

Nguyễn Bá Phú làm thơ đã lâu. Tôi đọc thơ ông khoảng 10 năm nay và tôi luôn có cảm tình với thơ của ông. Qua thơ, tôi nhận ra ông, một con người nhân ái, rất trọng đạo lý và sự trung thực. Mãi đến năm ngoái, 2011, ông mới xuất bản tập thơ đầu tay, tập Nắng xuân  (Nxb Văn hoá dân tộc), gồm 108 bài; trong đó, ngoài vài bài viết trong các chuyến công tác hoặc đi du lịch ở Campuchia hay Trung Hoa như những kỷ niệm thoáng qua, còn lại, phần làm nên sức nặng của thơ ông là ở những bài liên quan đến số phận những người thân của ông. Ở đó, thơ ông là cuộc đời ông, với những vui buồn có thật và cũng được viết rất thật. Thơ ông gần với thơ của những người lính đã đi qua chiến tranh, cuộc đời giản dị, trang viết chân thành, bởi ông nhận ra rằng: Nhân ái  trong nội dung và giản dị trong phong cách thể hiện sẽ tạo được sự hấp dẫn của thơ mình với đông đảo bạn đọc.  

Đọc thơ của ai, tôi chú ý đến những điều người đó quan tâm, tức là viết về cái gì, nhưng chú ý nhiều hơn, là người đó đã viết như thế nào, để nhận ra đẳng cấp nghệ thuật của tác giả. Nguyễn Bá Phú có hai mảng thơ được viết với hai bút pháp ít nhiều khác nhau. Mảng viết về những người thân: Bố, mẹ, dì, vợ, em trai (bố và em trai ông đều là liệt sĩ)… ông dường như không có mấy dụng công nghệ thuật, cứ để cho các sự kiện và tình cảm của mình tràn ra ngòi bút. Trân trọng và thương yêu, tận tụy và trách nhiệm là những phẩm chất quý. Câu thơ vì thế chân thực, chắc khoẻ, rậm rạp, nhiều sinh lực. Một số câu điềm tĩnh hơn, cảm xúc dường như được nén lại để hài hoà với ngôn ngữ, tạo được không gian thơ. Ví như đoạn thơ sau, ông viết về cái chết của người mẹ: Mẹ tôi lặn lội thân cò/ Hạt cơm cõng mấy hạt ngô bao ngày/ Ước ao được bát cơm đầy/ Giữa năm đói kém mẹ bay về trời... Hoặc đoạn thơ sau, ông viết bên giường bệnh của người vợ: Ngủ ngoan em nhé, đừng lo/  Mắt thâm, da nhợt, môi khô, thân gầy/ Khỏi rồi, em sẽ tươi ngay/ Má hồng môi thắm như ngày xa xưa/ Bồng bồng đi đón cơn mưa/ Ngồi đây anh đợi, anh đưa em về… Hai câu cuối đã chuyển hoá năng lượng của cả đoạn thơ.  

Do xúc cảm chân thực, được thể hiện giản dị, nên có sức thuyết phục và ở điều này, thơ ông tiếp cận được với thơ đương đại Việt Nam. Ông không hề dụng công làm thơ nhưng câu thơ đã đạt đến cái giá trị thực có của nó.

Mảng thơ thứ hai ông viết về chính ông, trong đó, cái tôi trữ tình là bản thân tác giả. Ở đây, tâm thế ông nhẹ nhõm hơn, ít chịu các áp lực đến từ bên ngoài, và trong những đoạn thành công, câu thơ ông tự nhiên, dung dị mà vẫn chải chuốt: Cứ gì phải diện áo hoa/ Áo nâu em mặc thế mà lại xinh. Có câu rất gần với tư duy dân gian về lẽ yêu ghét ở đời: Đã thương, thương đến lạ ky/ Đã yêu chẳng có cái gì không yêu/ Đến khi nắng nhạt phai chiều/ Mới hay vực thẳm đã liều bước qua. Và về cái sự lỗ lãi trong cõi thế, ở cái “chợ đời”, khi đồng tiền đã che khuất và làm méo mó nhiều giá trị: Người ta một vốn bốn lời/ Còn tôi, chợ sắp tan rồi, vẫn nguyên... Tôi đồng cảm với cách tự khẳng định mình như thế của tác giả. Người đọc tinh ý sẽ nhận ra sự tiếp nhận của ông đối với các thành tựu nghệ thuật của một số nhà thơ mà ông tâm đắc. Điều đó chứng tỏ thơ ông vẫn đang vận động và có cơ sở để phát triển...

Trần Nhuận Minh

Cùng chuyên mục