Nguyễn Đình Thái là một “gã thợ lò” chính hiệu, làm thợ lò tại Mỏ than Hà Lầm trong suốt hơn 35 năm, lấy vợ - thợ nhà sàng, con trai anh theo nghề bố, con gái theo mẹ vào nhà sàng mỏ. Thợ lò viết văn, làm thơ hay thì có nhiều, rất nhiều nhưng giỏi tưởng tượng, giỏi ví von về cái nghề, cái nghiệp của mình ở dưới sâu trong lòng đất như Nguyễn Đình Thái thì thật là hiếm.
Thơ Nguyễn Đình Thái khá rộng nhưng đề tài thợ lò là nét đậm nhất trong tập thơ “Bữa cơm chiều ở nhà thợ mỏ” gồm 130 bài thơ mà tác giả cho ra mắt lần này. Những âm thanh của mỏ vang lên trong thơ Nguyễn Đình Thái như một bản giao hưởng mùa xuân mà chỉ huy dàn nhạc chính là “anh” búa chém. Không có “anh ấy”, thợ lò thời “chống gỗ ngược” chả làm nên cơm cháo gì. Chính vì thế mà thợ lò - nhà thơ Nguyễn Đình Thái thắc mắc tại sao ở cụm tượng đài thợ mỏ Hà Lầm trên mặt bằng mới mức dương 75m lại thiếu anh búa chém.
Nay, cánh thợ trẻ đời con anh đã đào sâu đến âm 300, hiện đại hơn, đỡ nhọc nhằn hơn. Anh rất hỷ hả khi viết về thời nay: “Vì thuỷ lực, tiến giá trượt/ Thay cột xà gỗ dẻ/ “Cũi lợn” sắt vuông/ Trần lò lưới thép/ Máy combai”. Và, không chỉ có thế, “thợ trẻ làm than bấm nút tiến gương” với cơ giới hoá đồng bộ. Vậy là đã có “Một cuộc giao ca” giữa hai thế hệ cha và con, giữa âm 51 và âm 300, giữa thô sơ và hiện đại, giữa anh búa chém và chị nút bấm.
Nghề làm mỏ đâu có diễn ra yên bình. Cả lộ thiên lẫn hầm lò đều phải đối mặt với nắng lửa, với mưa lũ, với bão giông. Người cha từng trải nay đã nghỉ hưu lo cho mỏ, lo cho con và đồng nghiệp mỗi khi mưa lũ đến. Mưa lũ trong “Cha con và mưa tháng bảy” thật dữ dội, thật sinh động và chan chứa tình yêu thương. Anh thợ lò già “xé giấc ngủ trưa” xuyên qua “ngập trời mưa trắng” lên mỏ: “Giơ hai bàn tay/ Chắn phía cửa lò/ Nơi những nhát búa trời/ Đang chát chúa buông”. Người cha thì lo ngay ngáy, ấy thế mà cánh trẻ lại bình tĩnh đến lạ thường với hình ảnh “tát nước” đẹp và đáng yêu khó mà tưởng tượng nổi: “Mưa trút trắng trời/ Nước ràn rạt quất roi theo cuồng gió/ Thợ lò nghiêng ủng múc nước ra”... “Gái nhà sàng nghiêng yếm đào tát nước” (Mưa ở mỏ).
Thợ lò làm việc liên tục 24 giờ mỗi ngày, quanh năm dưới lòng đất sâu mà dám canh cho thiên hạ ngủ, khi mà “cả vũ trụ chỉ thợ lò còn thức”. Thực ra họ thức để đào những đường lò xuyên đá để rồi bị nhiễm bụi đá, mắc bệnh nghề nghiệp “bụi phổi” mà bụi đá (silico) nguy hiểm hơn bụi than mặc dù đã có các trang bị bảo vệ. Tác giả đã khéo lý sự “Phiếm luận về than”, về người thợ lò mắc bệnh bụi phổi mà vẫn kiên trì làm việc trong hơi thở nhọc nhằn: “Vỉa vách hổn hển, phập phồng ngực silico rướn thở”. Chỉ có anh nào là thợ lò chính hiệu mới viết được như thế, mới so sánh được một cách mạnh mẽ và tinh tế đạt đến đỉnh cao như thế. Chưa hết, tác giả khéo tưởng tượng, hình dung anh em đồng nghiệp đang làm việc dưới hầm sâu với những hình ảnh thật lãng mạn, thật sinh động, thợ lò đọc được chắc cũng vơi đi mệt nhọc: “Ngực trai thắp một chấm đèn thợ mỏ/ Ánh gương than rọi thẳm trái tim người”.
Thơ Nguyễn Đình Thái đâu chỉ ngợi ca “vinh quang” của thợ lò. Anh đã khéo luồn cái vất vả, nhọc nhằn, cái đắng cay của nghề vào trong bữa cơm của gia đình, vào trong cả lúc vui chơi, hưởng thụ, thư giãn của đời thợ. Nghiền ngẫm mấy câu thơ dưới đây ta nhận ra cái đắng cay sâu lắng đó: “Bữa cơm chiều cha con gặp nhau/ Con tắm rồi tóc loáng dầu than lò chợ/ Khói mìn đắng lùa qua hơi thở/ Mảnh vụn kíp lê rơi “cạch” xuống mâm cơm” (Bữa cơm chiều ở nhà thợ mỏ).
Thợ lò uống bia đâu có thường xuyên, cơm tập thể hay cơm nhà là chính. Mà sống dưới cùng một mái nhà thật đấy, thương yêu nhau nhiều đấy, nhưng đâu có dễ thường xuyên gặp được nhau: “Cả một tuần nhà ta mới gặp nhau/ Cha ca hai, con trai chuyên ca một/ Rổn rảng tiếng cười vỡ tung ngày chủ nhật/ Ông cháu, cha con, dâu rể sum vầy” (Chuyện nhà thợ mỏ). Gặp được cả nhà cùng lúc không dễ, bởi cuộc sống lao động nó bó buộc như thế; nhưng đã gặp nhau là vui, là sướng, là cười, “cười vỡ tung ngày chủ nhật”. Cái “cười vỡ tung” này chắc chắn hơn chứ không chỉ “bằng mười thang thuốc bổ”. Và, chỉ nhà thơ - thợ mỏ mới “nổ” được như thế.
Đến đây bạn đọc có thể hỏi: Vậy cái ông nhà thơ - thợ lò này không yêu hay sao mà chỉ mới thấy một tý bóng dáng con gái nhà sàng “nghiêng yếm đào tát nước”, chưa thấy có tý tình yêu nào? Xin thưa, có đấy, nhiều nữa là đằng khác, nhưng dẫu sao nó cũng chưa đậm đặc như đối với thợ lò. Chàng thợ lò trong “Trai làng ở mỏ” đã “chém” với cánh con gái rằng “Cánh tớ vào lò, mỏ trang bị cả gương soi”. Cánh gái nhà sàng đâu có vừa, họ “thả duyên qua gió”, gió chui xuống lò quạt mát làm các chàng ta ngất ngây: “Liền chị nhà sàng thả duyên qua gió/ Lò chợ chiều giòn thơm mùi quan họ” (Nghe quan họ ở nhà sàng). Các nàng còn “thả duyên qua gió” bằng cả những điệu cười: “Ô, điệu cười giòn quá/ Khoan thẳm vào gương than!” (Khúc biến thể từ than).
Thợ lò mê gái mỏ có lẽ bởi “Em lội suốt mùa than con gái/ Rắc vào tôi đen nhánh mắt cười” (Gặp lại màu than mùa cũ). Gái mỏ không phải chỉ là những người được sinh ra ở vùng Than mà từ khắp nơi đến mỏ làm ăn, lấy vợ, lấy chồng; không chỉ gần như vùng đồng bằng Sông Hồng mà xa hơn “gái Nghệ An mang duyên quê về với mỏ” (Gái Nghệ An lấy chồng thợ mỏ). Gái mỏ xinh thế, duyên thế hỏi sao không yêu “chết mê, chết mệt”. Đến đây thì bạn đọc có thể đã thấy cái anh nhà thơ - thợ lò này đa tình thế nào rồi!
Nhưng vẫn còn thiếu chút tình vợ chồng thợ mỏ, phải không bạn? Thì đây: “Anh về ca ba/ Em vào ca một/ Dúi tay xoong bột/ Anh cho con ăn”. Các ông như thế, còn các bà vợ thì nhớ chồng, mong chờ chồng: “Đêm chờ chồng/ Kẹt cửa ca ba/ Ngực chị rung/ Theo nhịp búa khoan” (Có một ca ba sau cánh cửa). Cái sự nhớ nhau của vợ chồng hay người yêu thợ mỏ nó vừa thấp thỏm, vừa da diết, sâu lắng khiến trời đất cảm thông giúp cho họ thêm giầu trí tưởng tượng; nối cho họ sợi dây “thần giao cách cảm”. Vì vậy “Âm ba trăm tưởng chừng sâu lắm/ Hoá ra gần như dải áo của em/ Dài chừng một hơi thở của em/ Ấm chỗ nằm người vừa thức dậy/ Tôi gõ vách than. Em chừng nghe thấy” (Tản mạn ca ba dưới lò âm ba trăm).
Cảm ơn bạn đọc đã đi cùng tôi đến cuối. Cảm ơn Nguyễn Đình Thái đã tặng cho đời tập thơ hay. Chúc anh thêm nhiều tác phẩm hay như thế và hay hơn thế.
Đoàn Kiển (CTV)