Nhà máy Xi măng Hạ Long (huyện Hoành Bồ) là một trong 3 dự án về xi măng lớn ở Quảng Ninh (cùng với Nhà máy Xi măng Thăng Long và Nhà máy Xi măng Cẩm Phả).
Một góc công trường xây dựng Nhà máy Xi măng Hạ Long
Trên diện tích 312,3 ha, Nhà máy Xi măng Hạ Long bao gồm nhà máy chính (có diện tích là 60,5 ha, mức đầu tư là 4.157 tỷ đồng và Trạm nghiền phía Nam tại khu công nghiệp Hiệp Phước, thành phố Hồ Chí Minh (có diện tích 10 ha, mức đầu tư 1.061 tỷ đồng). Công suất thiết kế của Nhà máy Xi măng Hạ Long là 5.500 tấn clinker/ngày đêm, tương đương với 2,07 triệu tấn xi măng PC40/năm; trong đó, nhà máy chính sản xuất 0,85 triệu tấn xi măng/năm và Trạm nghiền xi măng Hiệp Phước nhận clinker từ nhà máy chính để sản xuất 1,22 triệu tấn ximăng/năm. Nhà máy được xây dựng với hệ thống đồng bộ từ vận chuyển nguyên liệu đá vôi, sét ở các mỏ đến đưa clinker, xi măng bao, nhập than ra 2 cảng đều bằng hệ thống băng chuyền.
Mặc dù dự án này được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt từ năm 2002, nhưng phải đình lại gần 2 năm và tăng mức đầu tư từ 3.984 tỷ đồng lên đến 5.218 tỷ đồng (tăng 30% so với dự toán ban đầu). Đi tìm lời giải cho câu hỏi vì sao Dự án xây dựng Nhà máy Xi măng Hạ Long lại bị triển khai chậm, chúng tôi được ông Bùi Văn Luyện, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Xi măng Hạ Long cho biết: Dự án chậm triển khai là do giá cả thiết bị có thay đổi. Một nguyên nhân nữa là do công tác đền bù, giải phóng mặt bằng triển khai chậm. Lực lượng thực hiện công tác thẩm định để tiến hành đền bù giải phóng mặt bằng còn thiếu và yếu; việc triển khai xây dựng khu tái định cư cho dân kéo dài và chậm. Hiện vẫn còn gần 100 hộ dân chưa di dời khỏi hai mỏ đất sét của Nhà máy do giá đền bù thay đổi tăng cao. Việc triển khai đầu tư, xây khu tái định cư cho 169 hộ tại khu mỏ đất sét Yên Mỹ quá chậm; 11 hộ dân thuộc thôn Trại Me, xã Sơn Dương và một số hộ dân thuộc thôn Đá Trắng, xã Thống Nhất đã có phương án đền bù bồi thường nhưng huyện chưa cấp đất để tái định cư... Hiện nay Dự án mới chỉ hoàn thành đền bù giải phóng mặt bằng mỏ đá vôi áng Quang; kiểm đếm mỏ sét Lang Bang A được 49,1/63,3 ha. Bên cạnh đó, việc đầu tư xây dựng hệ thống giao thông như nâng cấp tuyến tỉnh lộ 326 và tuyến đường Trới - Vũ Oai triển khai rất chậm nên việc chuyển vật tư, thiết bị phục vụ cho công tác xây lắp của Nhà máy gặp nhiều khó khăn. Việc xây dựng đường dây 110 KV phục vụ cho sản xuất của Nhà máy hiện vẫn chưa được đầu tư. Đến nay, việc cấp phép khai thác mỏ đá và mỏ sét của Nhà máy vẫn đang chờ các cơ quan chức năng phê duyệt. Những khó khăn nảy sinh về địa chất, nhất là ở khu Trạm nghiền phía Nam khiến công tác thiết kế, xử lý nền móng công trình kéo dài so với dự kiến đề ra...
Để đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án, Công ty cũng đã triển khai một số giải pháp như: Thành lập tổ hợp nhà thầu gồm các nhà thầu: Tổng Công ty Sông Đà, Bạch Đằng, Lilama... để họ trực tiếp quản lý nguồn vốn của mình tại Công ty và tăng cường giám sát chất lượng công trình nhằm rút ngắn thời gian thi công và đảm bảo chất lượng cho Nhà máy. Công ty cùng kiến nghị với Bộ Xây dựng và tỉnh Quảng Ninh để phối hợp đẩy nhanh tiến độ xây dựng các tuyến đường giao thông phục vụ việc vận chuyển nguyên vật liệu phục vụ công tác xây lắp. Bên cạnh đó Công ty đã tăng cường đầu tư thêm các trang thiết bị, xe máy hiện đại để đẩy nhanh tiến độ thi công, đẩy mạnh việc thu thập các tài liệu, hồ sơ về khảo sát thiết kế, đánh giá trữ lượng mỏ sét áng Quang của Công ty liên doanh Xi măng Hải Long trước đây bỏ lại để trình các cơ quan thẩm định, cấp phép khai thác. Đến cuối năm 2005, Công ty đã hoàn thành việc ký hợp đồng vốn tín dụng với các ngân hàng trong và ngoài nước đảm bảo đủ nguồn vốn cho thi công và mua sắm thiết bị phục vụ sản xuất.
Tuy nhiên, đến nay, tổng giá trị thực hiện được của Nhà máy Xi măng Hạ Long mới đạt trên 200 tỷ đồng và chỉ mới giải ngân thanh toán đạt 605,447 tỷ đồng (trong đó nhà máy chính đạt 157,404 tỷ đồng, trạm nghiền phía Nam đạt 58,040 tỷ đồng). Hiện Công ty cổ phần xi măng Hạ Long đã tiến hành giải phóng mặt bằng đạt khoảng 88% dự án (342,4 ha/388,67ha); một số hạng mục công trình đã hoàn thành và đưa vào sử dụng như: san nền mặt bằng nhà máy, đường vào, hàng rào, các hạng mục khu điều hành sản xuất và các hạng mục phụ trợ như điện, nước, đường nội bộ phục vụ thi công, hoàn thành công tác thi công cọc thử. Công ty cũng đang triển khai thí nghiệm thử tải cọc, xây dựng kho phụ tùng nặng, kho vật tư tổng hợp, xưởng sửa chữa, bể nước 2.000 m3 ở nhà máy chính và san, đắp bù nền mặt bằng từ cao độ 1,8 đến 2,4 mét, hàng rào, khu điều hành sản xuất, hệ thống cấp thoát nước, kho xưởng của Trạm nghiền phía Nam.
Theo kế hoạch từ tháng 10-2006 đến tháng 3-2007 sẽ hoàn thành mua sắm thiết bị (bao gồm cả đấu thầu trong nước) và gia công chế tạo thiết bị tại Việt Nam; từ quý II-2006 đến quý IV-2007 triển khai thi công và hoàn thành các hạng mục thuộc dây chuyền chính của nhà máy và dự kiến đến hết tháng 3-2008 dự án sẽ hoàn thành và đi vào sản xuất. Để đạt được kế hoạch đó Công ty rất cần sự quan tâm, vào cuộc của chính quyền địa phương và các ngành liên quan.