Tiến sĩ Trần hữu Sơn là một chuyên gia thực địa có nhiều công trình nghiên cứu uy tín trong việc phát huy giá trị di sản trở thành nguồn lực phát triển kinh tế. ông có hàng chục đầu sách, bài báo, công trình nghiên cứu khoa học về văn hóa dân gian ứng dụng, bảo tồn và khai thác di sản, ảnh hưởng của các nhân tố tộc người đến việc phát triển kinh tế - xã hội, phát triển du lịch nhân văn.
Nhân chuyến công tác của ông đến Quảng ninh, PV Báo Quảng ninh đã có cuộc trao đổi với ông về vấn đề này.
- Cảm ơn Tiến sĩ đã trả lời phỏng vấn. Thưa ông, như ông đã biết Hội VNDG Quảng Ninh đang có ý định xây dựng một trung tâm giới thiệu quảng bá sản phẩm văn nghệ dân gian. Ông đánh giá như thế nào về ý tưởng này?
+ Làm du lịch cần có văn hóa dân gian mới tạo ra phần hồn. Đã gọi là làm du lịch thì ở Quảng Ninh không thể na ná giống như vùng biển khác được, mà cần thiết phải có nét đặc thù. Anh cứ hình dung xem giống như cô gái đẹp vậy, hàng chục cô đứng cạnh nhau cô nào cũng trang điểm phấn son giống nhau hàng loạt cùng một kiểu thì còn gì hấp dẫn nữa. Đôi khi một cô gái chân quê lại thu hút người ta.
Vậy cái gì tạo ra nét đẹp riêng và nét đặc thù ấy dựa vào đâu? Xin trả lời ngay, dựa vào thiên nhiên của Quảng Ninh, văn hóa dân gian của các dân tộc Quảng Ninh. Đặc biệt nét văn hóa ấy tạo ra đặc thù không thể lẫn được góp phần xây dựng thương hiệu du lịch Quảng Ninh và đồng thời hình thành bản sắc cho sản phẩm du lịch của tỉnh nhà…
- Muốn khai thác tài nguyên du lịch, biến di sản văn hóa dân gian thành sản phẩm du lịch thì Quảng Ninh phải làm những gì, thưa ông?
+ Muốn khai thác tài nguyên du lịch nhân văn, trong đó có văn hóa dân gian thì phải mang “chưng cất” lên. Đó là cả một quá trình dài nghiên cứu và có chọn lọc nữa chứ không phải cái gì cũng tạo ra được sản phẩm du lịch. Tôi lấy ví dụ như hát nhà tơ muốn thành sản phẩm du lịch ít nhất cũng phải có các đội hát (các câu lạc bộ) biểu diễn. Nhưng lại phải căn cứ vào nhu cầu du khách, biểu diễn ở đâu, thời gian ngắn dài thế nào cho mỗi một chương trình diễn, rồi đến việc liên kết với đơn vị doanh nghiệp tổ chức lữ hành lưu trú ra sao để biểu diễn. Thêm nữa, trước khi biểu diễn phải có tờ giới thiệu (được dịch sang tiếng nước ngoài) để nói về nội dung mà họ sắp được xem. Rồi thì kết hợp với vũ đạo và các trò diễn khác thế nào để đan xen nhau chứ không được “độc thoại” v.v.. Cái này giống như đầu bếp chế biến món ăn ấy, phải luôn nắm được khẩu vị của du khách. Rồi đến các sản phẩm thủ công truyền thống, phải biến thành đồ lưu niệm sao cho đẹp, ý nghĩa, gọn nhẹ, dễ vận chuyển và cả an toàn khi vận chuyển nữa. Làm nhỏ thôi, một chút thôi như tấm thổ cẩm nhỏ, dệt khăn, dệt mặt trăng, đan con thuyền nhỏ xíu bằng tre, làm cái khèn, cây sáo v.v. có thể cầm trên tay dễ dàng mang đi. Còn nhiều làng quê, làng nghề truyền thống, đặc biệt là những làng gần điểm du lịch nữa cũng có thể khai thác để phục vụ du lịch.
Tóm lại, dân gian có di sản ấy rồi nhưng muốn tạo ra kinh tế thì phải biến di sản ấy thành tài sản, thành sản phẩm du lịch…
- Nghĩa là phải phát huy giá trị văn hóa văn nghệ dân gian ở những điểm khai thác du lịch?
+ Đúng thế. Tôi ví dụ như ven bờ Vịnh Hạ Long có cái làng chài nào đã hoặc có thể đưa vào khai thác du lịch thì phải phát huy giá trị văn hóa dân gian ở đó, làm cho nó thật đậm lên. Đây cũng là một biện pháp kéo dài thời gian lưu trú của du khách, để du khách được trải nghiệm nhiều hơn. Thế là doanh nghiệp cũng lợi, mình cũng lợi, các nhà hàng khách sạn cũng lợi, những người bán hàng cũng được lợi. Lợi như thế tội gì mà không làm…
- Quay lại vấn đề sản phẩm đặc thù, như ông đã biết, Quảng Ninh có 22 dân tộc với nhiều loại hình trình diễn dân gian khác nhau. Liệu khi khai thác các loại hình trình diễn dân gian của các dân tộc Quảng Ninh có gì na ná với nơi khác?
+ Tôi không nghĩ sẽ giống. Cũng là các dân tộc đấy thôi như người Tày chẳng hạn, hát then của người Tày Quảng Ninh chắc chắn sẽ rất khác với các tỉnh khác, khi hát then ở đây có ảnh hưởng bởi yếu tố biển. Rồi cũng là dân tộc Dao như thế nhưng người Dao Quảng Ninh có nhiều nét khác đặc biệt là múa của họ nhiều nơi chỉ là múa chuông, ở đây múa trong lễ cấp sắc cực kỳ hấp dẫn, rồi họ nhảy theo kiểu bát quái nữa, không nhảy đơn giản bình thường. Mình đi sâu tìm hiểu và giải mã được những cái ấy rồi hãy dùng cả dàn nhạc lễ ấy, tái hiện cả cái không khí của lễ cấp sắc ấy thì tôi chắc chắn du khách sẽ rất thích. Đấy là một cách “chưng cất” tài nguyên nhân văn trong dân gian thành một tiết mục văn nghệ đặc sắc trên sân khấu. Hay một cách làm khác là ta tuyên truyền sớm trước khoảng 6 tháng cho du khách ngày, giờ địa điểm hãy đến nhà ông nào đó ở bản làng cụ thể nào đó để xem, trải nghiệm lễ này. Phải dịch những nội dung đó sang tiếng Anh và đưa lên mạng, lên trang web quảng bá. Ai đến Quảng Ninh vào ngày đó hãy đến xem…
- Thưa ông, không chỉ ven biển đâu mà ở các làng bản Quảng Ninh cũng đã có nhiều điểm khai thác du lịch, ví dụ như ở Khu Bảo tồn người Dao ở Bằng Cả, Hoành Bồ hay như làng quê Yên Đức (TX Đông Triều) chẳng hạn. Theo ông, những mô hình này như thế nào?
+ Thế thì rất tốt, rất hay chứ sao. Cần nhân rộng hơn nữa những mô hình này. Rất tiếc là tôi chưa được đến để nghiên cứu. Nhưng tôi nghĩ thế này, những mô hình ấy cần phải hình thành được một chuỗi sản phẩm du lịch, chứ không được là một sản phẩm du lịch đơn lẻ. Ví dụ có ăn gì, chơi gì, xem gì, mua đồ lưu niệm gì ở đấy không, có ngủ ở đấy không và được tổ chức ra làm sao. Phải quảng bá thật mạnh rằng nếu mà đến đây mà không ăn món này, không xem cái này, không tham quan ở địa điểm cụ thể này thì coi như chưa từng đến đây. Phải chào mời thế nào để người ta thấy hấp dẫn không thể nào cưỡng lại được. Tất cả phải tạo ra sự trải nghiệm. Đấy là cái quan trọng. Xu thế du lịch hiện nay là du lịch trải nghiệm cùng làm, cùng ăn, cùng ở, cùng thưởng thức sản vật với dân. Du khách cứ ở lâu được như thế là chúng ta làm du lịch thắng lợi rồi…
- Ở Quảng Ninh, có những điểm du lịch quá lớn, quá nổi tiếng rồi, liệu rằng những cái mà ông vừa gợi ý khi xây dựng nó có bị át đi, bị lu mờ không?
+ Tôi nghĩ là không, mà thậm chí ngược lại, nó còn hỗ trợ rất tốt. Có hai phương cách để làm. Thứ nhất là tận dụng những điểm đã có xem những chỗ nổi tiếng kia đã có những sản phẩm văn hóa dân gian gì, còn thiếu cái gì, cái gì thiếu ta mang đến bổ sung vào. Và thứ hai là trong du lịch bao giờ cũng khám phá cái lạ. Mình cứ giới thiệu những cái mới, cái lạ bao giờ cũng thu hút được du khách, không bao giờ phải sợ không có khách. Nhưng phải lưu ý rằng khoảng cách giữa các điểm đến không được quá xa, đường đi phải thuận tiện. Nếu khoảng cách từ A đến B là 30 cây số thì phải nghĩ ngay ở chỗ giữa khoảng 15 cây số ấy ta xây dựng cái gì để kết nối các điểm. Đừng làm xa quá người ta ngại.
- Thưa Tiến sĩ, làm tốt được những điều như ông vừa nói còn giúp ích gì cho các lĩnh vực kinh tế khác ngoài kinh tế du lịch, dịch vụ?
+ Làm tốt được điều đó còn kích thích được các làng nghề truyền thống phát triển, tìm được đầu ra cho nghề truyền thống, có thu nhập cho nghệ nhân dân gian. Đừng làm những cái to, vẫn lối hoa văn ấy, cách làm ấy, nhưng hãy làm những gì nhỏ nhắn như túi đựng máy ảnh, điện thoại có chữ lưu niệm tên địa danh đã đến, làm thuyền truyền thống với kích thước rất nhỏ thôi và giới thiệu đây là mô hình thuyền của Lê Hoàn, Ngô Quyền hay Trần Hưng Đạo đánh giặc chẳng hạn. Và bán rẻ thôi, giá cả vừa phải thôi thì làm sao phải lo không bán được…
- Trân trọng cảm ơn Tiến sĩ về cuộc trò chuyện bổ ích này!
Phạm Học (Thực hiện)