Tiếng lòng của một người con đất mỏ

(Nhân đọc tập thơ “Đi mãi là về” của Lê Xuân Nguyện)
Một tập thơ dày dặn, với 105 bài thơ, trong đó có tới hơn 20 bài là viết về mỏ và những người thợ mỏ, cho thấy Lê Xuân Nguyện lúc nào cũng đau đáu với vùng than. Từ Tiếng hát thành phố mỏ, Anh trở về đến Ta hôm nay tiếng máy ngân vang, Dưới chân tượng đài thợ mỏ, Những chuyến tàu than, Kỷ niệm hoa phượng đỏ v.v... tất cả đều theo một mạch cảm xúc trào dâng tình yêu, sự gắn bó máu thịt của một người con với đất mỏ.

Viết về thợ mỏ những năm trước cách mạng, Lê Xuân Nguyện có những câu thơ thật xúc động, đầy nước mắt: “Gạo cơm mục trộn mặn dòng nước mắt/ manh áo quần chằm vá thương đau…” (Trường ca Tiếng hát thành phố mỏ). Nhắc đến sự kiện tổng bãi công của thợ mỏ tháng 11 năm 1936, anh dùng một hình ảnh mang tính ẩn dụ thật sinh động: "Tháng mười một ơi, người là thuốc nổ/ anh em ta kết lại thành ngòi…”. Để rồi từ đó, tác giả đi đến một nhận định mang tính khái quát: "Lịch sử từ trang nợ nần khắc cốt/ máu trả máu, thép từng đòn trả thép/ Dân tộc này nhân nghĩa công minh…”.

Tôi rất đồng tình với nhà thơ Trần Tâm khi anh viết trong lời giới thiệu tập thơ: "Dù viết về vấn đề gì, thơ Lê Xuân Nguyện vẫn là tiếng nói, tấm lòng của người thợ mỏ tha thiết yêu đời, yêu người, vì cuộc đời, vì con người".

Và trong những bài thơ được viết với sự “tha thiết yêu đời, yêu người” thợ mỏ ấy của anh, tôi như nghe thấy rất rõ những âm thanh, nói đúng hơn là những tiếng động của vùng than; hầu như ở bài thơ nào viết về thợ mỏ hay về vùng đất mỏ, ông đều nhắc đến cái âm thanh quen thuộc ấy. Đó là tiếng  “nước mưa nguồn đổ xuống dòng sông”, là tiếng “nước dòng sông đổ về biển cả”… Đó là tiếng hát của những người thợ: “Những chuyến xe dập dềnh tiếng hát/ những chuyến xe đi dập dồn sóng nhạc/ chúng tôi thành nghệ sĩ giữa tầng than…” (Tiếng hát Đèo Nai). Và cả những tiếng lòng của họ nữa: “Đốt cho mẹ ngọn lửa tươi/ cháy bùng lên giữa cuộc đời tối tăm” hoặc “Những tháng năm đi trong hối hả/ hoa và cỏ dâng đến ga vui/ thành phố bừng lên sức sống con người...”.

Có thể nói, Lê Xuân Nguyện luôn ý thức một cách rõ ràng, rằng trước khi là “người thơ”, ông là “người thợ”, gắn bó với đời thợ. Tâm hồn ông là tâm hồn “người thợ”: "Sống cao sang cuộc sống làm người/ Ta là cái ê cu biết chặt lỏng từng ngày/…/Sống xứng đáng cho vạn ngàn chi tiết…” (Ta hôm nay tiếng máy mãi ngân vang). Và ông tự hào vì đã sinh ra ở vùng than, nơi các thế hệ cha anh đã làm nên trang sử vàng truyền thống: “Các anh sống như hòn than nguyên chất/.../ Hôm nay trên bệ đá hoa này/ trên đầu hoa trắng bay…”…

Tất nhiên, “Đi mãi là về” vẫn còn có những câu, những ý chưa thật đắt, vẫn còn thiếu sự gợi cảm và chất lãng mạn của một bài thơ hay. Tuy nhiên, cầm tập thơ trên tay, tôi không khỏi bồi hồi, xúc động trước tình yêu con người, tình yêu đất mỏ của tác giả. Chỉ riêng điều đó thôi cũng đã thật đáng quý, đáng trân trọng rồi…

Phạm Đăng Kim

Cùng chuyên mục