"Tinh thần Trần Nhân Tông đã và sẽ toả sáng trong xã hội hiện đại"

(PGS. TS Nguyễn Hữu Sơn, Phó Viện trưởng Viện Văn học, trả lời PV Báo Quảng Ninh)

PGS. TS Nguyễn Hữu Sơn là một chuyên gia nghiên cứu văn học Việt Nam thời kỳ Trung đại. Ông là tác giả của nhiều công trình nghiên cứu về thơ Thiền Lý Trần nói chung và thơ Trần Nhân Tông nói riêng, với nhiều công trình nghiên cứu có giá trị, như: “Thơ Thiền những nẻo đường tu chứng và giải thoát”, “Con đường trở về thiên nhiên và đời sống trong các bài thơ - kệ”, “Vị thế danh nhân văn hoá Trần Nhân Tông” v.v..

Vừa qua, PGS. TS Nguyễn Hữu Sơn đã đến dự một cuộc hội thảo về Phật giáo tại Yên Tử. Chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với ông...

- Thưa PGS. TS Nguyễn Hữu Sơn, là một người đã dành nhiều thời gian nghiên cứu về Trần Nhân Tông và Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, cảm xúc của ông như thế nào khi trở lại đây, nhất lại là trong dịp Đại lễ khánh thành tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông, vị tổ của Thiền phái Trúc Lâm?

+ Tôi rất vui khi trở lại với Quảng Ninh, lên Yên Tử đúng vào dịp 705 năm ngày Phật hoàng nhập Niết Bàn. Trước đó, tôi đã đọc lại tác phẩm du ký Hành trình chơi núi An Tử của Kiếm Hồ Nguyễn Thế Hữu, chợt bâng khuâng nhận ra một con đường tâm linh, một con đường đi về cõi Phật, một sự hoà hợp tình người, tình đời với cảnh quan thiên nhiên Phật, đất trời Yên Tử… Ngày ấy, cách đây chừng một thế kỷ, các cụ đi chơi Yên Tử phải mất 6 ngày ròng rã. Bây giờ thì sáng đi chiều về thảnh thơi, lại còn được đi cáp treo nữa, rất tiện lợi. Nhưng thú thực, tôi vẫn thích cái thú hành hương về Yên Tử như của người xưa. Vừa đi tôi vừa lấy làm thú vị về tên những địa danh, cứ ngẫm nghĩ mãi cũng chẳng hiểu ngọn nguồn địa danh có chữ “Bí” trong những Bí Trung, chùa Bí Thượng, rồi Uông Bí, nghĩa là gì. Biết đến bao giờ ta mới dám bỏ ra 6 ngày ngược lên Yên Tử đúng theo lối dẫn người xưa?...

- Theo PGS, điều gì đã khiến Trần Nhân Tông lựa chọn Yên Tử làm chốn tu hành?

+ Người xưa nói: “Nhân giả nhạo sơn, Trí giả nhạo thuỷ” (Bậc đức nhân tìm về với núi, kẻ trí  tìm về với biển), cả hai kiểu tâm tính ấy hẳn đều được thoả mãn khi chúng ta tìm về Quảng Ninh. Riêng Phật hoàng Trần Nhân Tông và Thiền phái Trúc Lâm gắn với non thiêng Yên Tử đã hội hợp trở thành biểu tượng của đời sống tâm linh Phật giáo cũng như vẻ đẹp kỳ thú của non sông đất nước… Trong mối duyên lành với nhà Phật, Trần Nhân Tông có điều kiện thuận lợi bởi vượt lên giữa những cuộc chiến chống xâm lược ác liệt là một thời Phật giáo hưng thịnh. Trực tiếp hơn, Trần Nhân Tông từng được tiếp nhận tư tưởng Phật giáo từ ông nội Trần Thái Tông, vua cha Trần Thánh Tông và đặc biệt chịu ảnh hưởng sâu đậm từ Tuệ Trung Thượng sĩ. Có thể nói, tâm thế Trần Nhân Tông sớm hướng đến cửa Phật nhưng kể từ khi lui về làm Thượng hoàng thì mọi điều kiện, cơ duyên mới thực sự chuyển hoá thành hành động, việc làm cụ thể. Đây là cả một quá trình, một sự vận động trong tư tưởng Phật giáo Trần Nhân Tông; để ông từ tu ở Vũ Lâm (Ninh Bình) trở về Yên Tử…

- Cổ nhân đã nói: Văn là người. Theo PGS, con người Trần Nhân Tông được thể hiện như thế nào trong các sáng tác của ông?

+ Trên phương diện sáng tác, Trần Nhân Tông thể hiện sắc nét vị thế thiền sư và hình ảnh con người đạt đạo. Thơ hướng về Phật giáo của Trần Nhân Tông có thể chia thành hai loại: Thể hiện cảm quan Phật giáo qua những bài thơ đề vịnh, cảm nhận và những tác phẩm trực diện chiêm nghiệm, thức nhận về tư tưởng nhà Phật. Loại thơ thứ nhất thiên về bộc lộ những gợi hứng do tác động từ đối tượng và qua đó thể hiện suy tư, tình cảm, chiêm nghiệm của chủ thể tác giả về chính đối tượng đó, như các bài Đề Cổ Châu hương thôn tự (Đề chùa làng hương Cổ Châu), Đề Phổ Minh tự thuỷ tạ (Đề nhà thuỷ tạ chùa Phổ Minh), Đại Lãm Thần Quang tự (Chùa Thần Quang trên núi Đại Lãm) v.v.. Loại bài thứ hai bày tỏ trực tiếp quan niệm của tác giả về các mối quan hệ hữu - vô hay những lời giảng giải dưới hình thức hỏi đáp có ý nghĩa như những công án phân biệt mê ngộ bằng thơ như Tán Tuệ Trung Thượng sĩ (Ca ngợi Thượng sĩ Tuệ Trung), Hữu cú vô cú (Câu hữu câu vô), Sư đệ vấn đáp (Thầy trò hỏi đáp)… Trần Nhân Tông thể hiện khả năng thâu thái những giá trị tinh thần Phật giáo từ bên ngoài để sáng tạo nên một Thiền phái bản địa, nội sinh trên cơ sở thực tiễn xã hội và mạch nguồn tư tưởng văn hoá dân tộc. Trần Nhân Tông cũng là nhân vật lịch sử hiếm hoi kết hợp nhuần nhuyễn cả hai vai trò vương quyền và thần quyền, vị thế giáo chủ và một thiền sư đắc đạo, nhà truyền giáo và nhà truyền bá văn hoá bằng chính những trang thơ độc đáo…

- Ông đánh giá cao những bài thơ nào trong các trước tác của Phật hoàng?

+ Điều cần chú ý là chính nhờ Phật giáo, nhờ đời sống tu hành, sự đắc đạo và tư chất thi ca mà Trần Nhân Tông có được hai tác phẩm Nôm nổi tiếng: Cư trần lạc đạo phú (Phú ở cõi trần vui đạo) và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca (Bài ca được thú lâm tuyền thành đạo). Cả hai tác phẩm trường thiên đều bằng chữ Nôm, giữ vai trò định giá tư tưởng Phật giáo của Trần Nhân Tông cũng như khơi mở cho bộ phận thơ Nôm dân tộc phát triển...

- Vậy tư tưởng chính ấy là gì, thưa ông?

+ Ở đây có thể thấy được những suy nghĩ, hành động của Trần Nhân Tông đều khế hợp với mẫu hình một tăng lữ, một nhà Phật học. Mặt khác, cũng cần phải khách quan thừa nhận rằng Trần Nhân Tông là người mở đầu Thiền phái Trúc Lâm, nhưng luôn là bậc tu hành gắn bó thiên chức hoằng dương Phật giáo với nhiệm vụ xây dựng và phát triển đất nước. Ngài coi trọng sự nghiệp tu hành, trải nghiệm cả từ lối tu khổ hạnh, tu núi vừa lo Phật sự, hoằng dương Phật pháp, lập thuyết, tuyên truyền giáo lý, mở mang nhận thức (mở hội Vô lượng pháp, giảng kinh Giới thí…) vừa thực thi những việc lợi lạc quần sinh, gắn với lợi ích thường ngày, cụ thể, thiết thực với tầng lớp nghèo khổ (bố thí vàng bạc tiền lụa để chẩn cấp dân nghèo trong nước…), đồng thời vẫn chăm lo đến công việc nội trị, ngoại giao, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, phát triển đất nước (ổn định chính sự, thu nạp hai châu Ô, Lý, có sách lược khoan sức dân miền biên viễn…) v.v..

- Theo PGS, tại sao tư tưởng ấy lại có sức sống lâu bền đến vậy?

+ Tinh thần Trần Nhân Tông và Thiền phái Trúc Lâm - Yên Tử đã vững vàng bước vào thế kỷ XXI, thời đại của hội nhập, toàn cầu hoá. Đi tìm câu trả lời cho hiện tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông chắc chắn phải xem xét những nguyên cớ sâu xa trong lịch sử. Trước nhất, theo tôi, Trần Nhân Tông là vị hoàng đế - thiền sư - thi sĩ không chỉ thâu thái được tinh thần xã hội Đại Việt thế kỷ XIII - XIV mà còn kế thừa được những phẩm chất cao đẹp vốn có từ các Thiền phái khác đã truyền thừa qua nhiều thế kỷ trước và chuyển hoá, phát triển mạnh mẽ trong suốt thời Lý - Trần. Tuy nhiên, phải đến Phật hoàng Trần Nhân Tông thì tinh thần Phật giáo ấy mới thực sự toả sáng, quy tụ thành một tôn giáo gắn với toàn thể chúng sinh của một quốc gia. Tên tuổi Phật hoàng Trần Nhân Tông và địa danh Trúc Lâm - Yên Tử đã thực sự đi vào thế giới tâm linh và trở thành biểu tượng của văn hoá Phật giáo và văn hoá dân tộc…

- Lý do thứ hai là gì, thưa PGS?

+ Thứ hai, có thể nói tinh thần Phật giáo Trần Nhân Tông nhấn mạnh giá trị của cuộc sống nhân sinh, coi trọng nghĩa tình giữa con người với con người và thấu hiểu bản chất sự giải thoát ngay giữa cõi đời này. Cách hiểu, cách tu tập, hoằng dương Phật pháp ở đây gần gũi với con người và được ứng dụng, chiêm nghiệm ngay trong cuộc sống hàng ngày. Chính nhờ thế mà tinh thần Trần Nhân Tông và Thiền phái Trúc Lâm - Yên Tử thâm nhập vào quảng đại quần chúng, có sức lan toả sâu rộng trong cộng đồng người Việt hiện đại, cả ở trong nước và nước ngoài…

- Còn nguyên nhân thứ ba?

+ Thứ ba, trong căn rễ văn hoá của người Việt Nam hiện đại và đương đại bao giờ cũng tiềm tàng sức mạnh của văn hoá truyền thống. Sức sống của tinh thần Trần Nhân Tông và Thiền phái Trúc Lâm - Yên Tử đã hoà nhập với truyền thống văn hoá ngàn năm của dân tộc. Truyền thống Phật giáo nhập thế đã đưa dân tộc vượt qua ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông và ý thức nhập cuộc trong cuộc đấu tranh giải phóng, bảo vệ đất nước thời hiện đại với toàn thể chúng dân nước Việt và ngay trong giới tu hành…

- Theo ông, tư tưởng của Phật hoàng Trần Nhân Tông có ý nghĩa như thế nào với xã hội hiện đại?

+ Tinh thần Trần Nhân Tông và Thiền phái Trúc Lâm - Yên Tử có đủ sức mạnh nội tại để phát triển trong thời đại mới. Sức mạnh Thiền phái Trúc Lâm - Yên Tử đã nhập cuộc và trở thành dòng mạch chủ lưu qua các thời Lê - Trịnh, hưng khởi mạnh mẽ hồi đầu thế kỷ XX và thực sự phục hưng, phát triển lên một tầm cao mới kể từ thời kỳ đất nước ta bước vào công cuộc đổi mới đến nay. Rõ ràng, tinh thần Trần Nhân Tông và Thiền phái Trúc Lâm - Yên Tử không chỉ thể hiện rõ khả năng phát triển trong nội bộ Phật giáo mà còn có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống xã hội Việt Nam hiện đại. Nguyên do bởi ngay trong xã hội hiện đại vẫn cần giải quyết hài hoà các mối quan hệ thiết cốt giữa điều kiện vật chất và đời sống tinh thần, cá nhân và cộng đồng, con người và xã hội, dân tộc và quốc tế. Chính những giá trị minh triết, nhân văn, hướng về hạnh phúc con người và lý tưởng hoà bình Trần Nhân Tông đã toả sáng, hấp dẫn mọi chúng sinh, phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của xã hội hiện đại…

- Xin cảm ơn PGS về cuộc trò chuyện rất bổ ích này.

Phạm Học (thực hiện)

Cùng chuyên mục