TKV tạo sức bật từ Vùng mỏ Quảng Ninh

Quảng Ninh là địa bàn quan trọng đối với sự phát triển của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV). Bởi lẽ, than ở Quảng Ninh chiếm tới 95% sản lượng so với toàn ngành và chiếm tỷ lệ lớn giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn của tỉnh.

t

 Bốc rót than xuống tàu.                  ảnh: Đỗ Giang

Những năm đầu thế kỷ 21, nhất là trong năm 2006, sau khi phân tích, dự báo thị trường tiêu thụ than trong nước và thế giới, TKV thấy rằng: Than nội địa có tăng, nhưng chưa có sự đột biến, nhưng nhu cầu than ở thị trường quốc tế có thể tăng cao do các nền kinh tế lớn có xu hướng tăng nhu cầu sử dụng than, đặc biệt là các tỉnh phía Nam Trung Quốc gần Việt Nam, Nhật Bản, Thái Lan, Châu Âu và Nam Mỹ. Từ cơ sở đó, TKV đã đề ra nhiều giải pháp quan trọng nhằm tăng nhịp độ khai thác kinh doanh than, trong đó chủ yếu ở Quảng Ninh với nguồn than Antraxit nhiệt lượng cao, hàm lượng lưu huỳnh thấp được khách hàng nước ngoài ưa chuộng.

Để tạo ra bước chuyển động mạnh trong sản xuất than sau khi đi tìm hiểu ở một số nước có công nghệ khai thác than tiên tiến và khảo sát tình hình địa chất ở khu vực mỏ mình, các công ty than đã đầu tư lớn đổi mới công nghệ khai thác. Các mỏ hầm lò hầu như đã được thủy lực hóa như cột thủy lực đơn, giá thủy lực di động để chống giữ lò thay thế gỗ trụ mỏ, một số đơn vị còn sử dụng máy khấu than Kombai. Các công ty khai thác than lộ thiên được đầu tư thiết bị hiện đại có công suất lớn như xe CAT của Mỹ, xe KOMAT-SU của Nhật có trọng tải từ 55 - 58 tấn, máy xúc có dung tích gầu trên 10 m3/gầu. Công nghệ sàng tuyển cũng được cải tạo thay đổi để chế biến ra các loại than phù hợp với nhu cầu khách hàng. Hệ thống cảng được đầu tư đào sâu luồng lạch để đón tàu có trọng tải lớn từ 4 - 6 vạn tấn vào cập bến mua than. Nói theo cách khác, sản xuất than ở vùng mỏ Quảng Ninh đã được đầu tư hoàn thiện công nghệ từ khai thác, vận chuyển, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm. Do đột phá đầu tư về công nghệ sản xuất và chăm lo đào tạo nâng chất lượng nguồn lực lao động nên sản lượng than hàng năm của TKV tăng lớn. Năm 2005, đạt số lượng than thương phẩm và tiêu thụ 30 triệu tấn, trong đó xuất khẩu 14,5 triệu tấn. Năm 2006, dự kiến tiêu thụ 35 triệu tấn, trong đó xuất khẩu hơn 18 triệu tấn. Các công ty cơ khí: Chế tạo thiết bị, lắp ráp xe ô tô trung xa, đóng tàu và sản xuất vật liệu nổ công nghiệp phục vụ cho sản xuất than và các ngành kinh tế khác đã tạo được bước phát triển với quy mô lớn.

Nhờ đẩy mạnh khai thác than và phát triển kinh tế đa ngành trên nền sản xuất than nên đời sống văn hóa thợ mỏ Quảng Ninh được cải thiện đáng kể. Nhiều công ty than đã xây dựng sân bóng đá, nhà luyện tập đa năng và thi đấu thể thao. ở Cẩm Phả - vùng than lớn đã xây dựng tượng đài Trần Quốc Tảng, vị danh tướng Nhà Trần có công trấn ải vùng Đông Bắc và trong dịp kỷ niệm 70 năm Ngày truyền thống công nhân mỏ 12-11 (1936 - 2006) sẽ tiến hành tổ chức khánh thành Quảng trường 12-11, nơi nổ ra cuộc đình công của thợ mỏ năm 1936.

Thực hiện quy hoạch tổng thể phát triển ngành Than đến năm 2010, triển vọng đến năm 2020, hiện ở vùng mỏ Quảng Ninh đang thực thi các dự án lớn như đầu tư mở mỏ mới khu Khe Chàm, mỏ hầm lò Cọc Sáu, khởi công xây dựng Nhà máy Nhiệt điện Cẩm Phả, chuẩn bị đầu tư Nhà máy Nhiệt điện Mạo Khê, Mông Dương, Nhà máy Sản xuất thuốc nổ an toàn trong hầm lò ở Đông Triều. Dự án cầu nổi để phục vụ bốc xếp than tại cảng Hòn Nét. Đầu tư hiện đại hóa công nghệ chế tạo máy, lắp ráp ô tô, đóng tàu thủy... có thể nói trong quá trình xây dựng và trưởng thành, ngành Than cùng với tỉnh Quảng Ninh đã nâng được tầm vị thế phát triển của mình làm sáng thêm bề dày truyền thống công nhân mỏ trong giai đoạn phát triển mới bước vào hội nhập quốc tế.

Cùng chuyên mục