Nhà thơ Trần Nhuận Minh sinh ra ở một làng quê thuộc huyện Nam Sách (tỉnh Hải Dương), nhưng phần lớn cuộc đời ông lại gắn bó với vùng than Quảng Ninh. Và khác với nhà thơ Trần Đăng Khoa, em trai ông, người được mệnh danh là “thần đồng thơ” từ khi mới chưa đầy 10 tuổi, Trần Nhuận Minh cũng làm thơ từ hồi còn rất trẻ nhưng chỉ khi đã đến độ tuổi trưởng thành, từng trải rồi, thì những sáng tác của ông mới thực sự gây được tiếng vang trên thi đàn Việt Nam đương đại. Nhớ lại tuổi ấu thơ của mình, ông tâm sự:
+ Thuở bé, tôi ở nhà ngoại. Em gái ruột ông ngoại tôi là một người mù bẩm sinh, làm nghề bói toán. Bà không biết đọc, dĩ nhiên, nhưng tôi không hiểu sao bà thuộc Kiều và dạy cho tôi từ rất nhỏ, hình như từ ba bốn tuổi. Nhiều đêm, tôi đã ngủ thiếp đi trong tiếng lẩm nhẩm đọc Kiều của bà. Bạn cứ hình dung, thuở ấy, ở một làng quê xa, đói nghèo và rất hẻo lánh, trong đêm đen thăm thẳm sâu và im lặng như tờ, trong một ngôi nhà tranh vách đất nhỏ bé, vắng lặng, chỉ có ba người, cậu ruột tôi mà bà nhận làm con nuôi, thì đã ngủ ngay từ chập tối, những câu Kiều vang động từ tâm thức của một người mù, người đó lại là nữ, rất giàu lòng trắc ẩn, sống đến già không chồng không con… thì nó dội vào tâm hồn thơ trẻ và non nớt của tôi với sự “chiếm đoạt”, có thể nói là duy nhất và tuyệt đối… Có lẽ vì thế, mà tôi dám nói rằng: Những câu Kiều thấm vào tâm hồn tôi sâu sắc hơn nhiều người khác, như nước thấm vào cát, như máu thấm vào da thịt người…
- Cái “ký ức tuổi thơ” ấy, phải chăng đã đưa ông đến với thơ?
+ Về một góc độ nào đó, cũng có thể nói như thế! Nhưng cái quan trọng nhất là chính nó đã dần dần hình thành trong tôi một thái độ sống: Cố gắng xoá bỏ mọi thù hận, yêu thương tôn trọng con người, tôn trọng sự thật, nhận ra mọi giá trị, nếu có được, là từ sự thật. Trong một bài thơ tôi viết khi nằm điều trị tại bệnh viện K (Hà Nội) thời gian gần đây, có câu: “Còn bao nhiêu thời gian để tôi yêu đất nước, đã nuôi dạy tôi trong đói rét, đạn bom/ Và tôi nhận ra: trên cõi đời này, chẳng có cái gì cao hơn sự thật!” cũng là từ cái ý ấy. Tôi nghĩ: Cứ sống cho tốt, cho trong sáng, nhường nhịn, chịu thương chịu khó, ăn ở cho lương thiện… nhất định sẽ được hưởng phúc lành, bởi cuộc đời có nhân thì sẽ có quả. Tôi hằng tin: “Người trồng cây Phúc thì quả Phúc đầy vườn/ …/ Nếu vô tình xéo vào lưng con rắn độc/ Thì con rắn độc biến thành sợi dây…”. Bạn biết không, thuở bé, tôi từng làm những câu hò cho cả làng. Bạn thử hình dung, không khí làng quê tôi sau ngày Hoà bình lập lại Đông Dương (một câu “thơ” tôi viết năm 1954, khi ấy tôi 10 tuổi), cả làng trưa ăn cháo, tối ăn khoai luộc, đói lắm, vẫn thức suốt đêm uống nước chè tươi mà á lơ hò lờ. Á lơ hò lờ là cái hồn vía của làng những năm trong trẻo và đói rét ấy. Xã tôi được chọn làm trạm dừng chân cho các xã cuối huyện Nam Sách đóng thuế nông nghiệp. Tôi làm những câu á lơ hò lờ ấy cho những người nộp thuế nghe trong lúc nghỉ chân. Rồi tôi được bổ sung vào tổ tuyên truyền của huyện. Hàng tuần tôi viết những bài ca 4 câu lục bát. Sau khi được duyệt thì huyện đánh máy gửi về các làng xã, phát lên loa, kẻ lên tường vách các nhà. Chỉ có tôi và ít người biết được đó là “thơ” của tôi. Bây giờ, người ta gọi nó là “thơ con cóc”, chứ hồi đó thì chưa thấy ai gọi như vậy cả! Nó động viên, khích lệ mọi người hăng say lao động sản xuất, nó giúp cho đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước thấm nhanh nhất vào lòng người dân… Vậy là nó “có ích” rồi, đúng không nào? Và theo tôi, “có ích” bao giờ cũng là yêu cầu tối thượng trong mọi việc làm của mỗi con người…
- Nhưng như ông nói trong một lần trò chuyện trước đây, rằng ông chỉ coi sự nghiệp thơ của mình bắt đầu từ khi đất nước bước vào công cuộc đổi mới - năm 1986…?
+ Đấy lại là một vấn đề hoàn toàn khác! Đúng là không có công cuộc đổi mới, không có bước ngoặt vĩ đại ấy của Đảng, chắc chắn không có thơ tôi bây giờ. Nhưng việc làm “thơ con cóc” mà tôi đã nói ở trên, hay kể cả những bài thơ tuyên truyền cho các chính sách của Đảng và Nhà nước, mà suốt 25 năm bao cấp tôi đã sáng tác, nó “có ích” là xét dưới góc độ mục đích, tác dụng, chứ không phải xét dưới góc độ giá trị thẩm mĩ. Phải đến 1976, tôi mới biết đó không phải là sở trường của mình. Vì thế, bước vào công cuộc đổi mới, 1986, tôi phải làm lại mình, để thoát ra trong một vùng ánh sáng khác. Điều ấy lý giải vì sao, trong thơ tôi có 2 giai đoạn rất rõ rệt. Giai đoạn một, tôi viết về “cái mà cuộc sống cần ở mình”. Chủ đề tư tưởng là các nhiệm vụ chính trị cần phải đạt đến. Giai đoạn hai, từ năm 1986, tôi viết về “cái mà mình cần phải có ở tác phẩm của mình”, nỗi ám ảnh của cá nhân mình trước những gì mắt thấy tai nghe, cùng với những tổng kết, trải nghiệm của cả cuộc sống mà mình tích tụ được đến lúc đó, qua lăng kính của chủ nghĩa nhân văn. Tôi cũng đã nói điều này trong phần nghĩ về nghề (Sách kỷ yếu Nhà văn Việt Nam hiện đại, Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản năm 2007): “Có một nỗi niềm nào đó thực sự ám ảnh anh, buộc anh phải viết ra, nếu không viết ra được với những đặc trưng như thế, như thế… anh hoàn toàn mất thăng bằng. Đối với anh, đó là sự giải toả, còn đối với bạn đọc, đó là sự khám phá mới về Cõi Người, với những khát vọng không bao giờ nguôi ngoai…”.
- Tập thơ “Nhà thơ và hoa cỏ” sau khi ra mắt công chúng, nhiều nhà thơ, nhà lý luận phê bình đã đánh giá rất cao, có người cho rằng thơ chân dung là một mảng thơ đặc sắc “chỉ riêng có của Trần Nhuận Minh”… Ông nghĩ thế nào về điều này? Và vì sao sau đó ở tập tiếp theo, “Bản Xônát hoang dã”, ông lại viết với một bút pháp hoàn toàn khác?
+ Thực ra, ở “Nhà thơ và hoa cỏ” tôi không làm thơ chân dung, mà làm thơ về các số phận người, trong những va đập của thời cuộc, trong sự học hỏi và thẩm thấu tinh thần nhân văn chủ nghĩa của Nguyễn Du. Nếu bạn chịu khó thống kê, sẽ thấy trong đó có hàng trăm (tôi nói không ngoa đâu) các số phận khác nhau, từ nhân vật rất nổi tiếng là ông Bí thư Tỉnh uỷ Kim Ngọc, đến cô gái “bán hoa” không tên tuổi, mà chút ánh sáng cuối cùng của lương tri, vẫn chưa bị cuộc sống nhơ bẩn làm tắt hẳn. Nhà thơ Vũ Quần Phương viết: “Thơ Trần Nhuận Minh như một hồ sơ xã hội. Hồ sơ lưu sự kiện, lưu con người, lưu được cả tâm hồn tính cách xã hội”... có lẽ là từ ý ấy!
Thế nhưng, sau đó, tôi thấy cần phải viết khác đi, và thế là Bản Xônát hoang dã ra đời. Tôi hoàn toàn không biết, về mặt thể loại, nên đặt tên nó là gì? Có nhà phê bình cho nó là một loại trường ca(?)... Xét cho cùng, điều ấy cũng không quan trọng và không phải là việc của người sáng tác. Ở tập này, tôi viết rất nhẹ nhàng, thanh thoát và dường như chả bận tâm đến bất cứ cái gì, lòng hoàn toàn thanh thản, trong trẻo. Có điều tôi không nói ra là tôi thử vận dụng đặc trưng của thể loại sonata âm nhạc vào thơ, tập làm một bản sonata hoàn toàn bằng lời xem như thế nào. Cái âm hưởng của Bản Xônat hoang dã tôi rất muốn ổn định và phát triển, để có thể hình thành một lối thơ khác của tôi sau lối thơ hiện thực kiểu Nhà thơ và hoa cỏ. Nhưng sau đó, tôi không sao viết tiếp theo cách đó được nữa, dù rất muốn. Nó chỉ xuất hiện trong sáng tác của tôi duy nhất có một lần…
- Để rồi sau đó ông lại “tự làm mới mình” trong “45 khúc đàn bầu của kẻ vô danh”? Sao lại là “vô danh” nhỉ? Dường như nó không giống với những gì được thể hiện trong tập thơ?
+ Đấy là do bạn hiểu khái niệm “vô danh” theo nghĩa thông thường, giống như “vô danh tiểu tốt” mà thôi! Trong các triết thuyết phương Đông, tôi rất thích Lão Tử, Trang Tử. Và ở “45 khúc đàn bầu của kẻ vô danh”, khái niệm vô danh là tôi mượn của Lão Trang. Trang Tử viết: “Thánh nhân vô kỉ, Thần nhân vô công, Chân nhân vô danh”. Kẻ vô danh chính là Chân nhân đấy. Và trong quan niệm của tôi, dĩ nhiên, Chân nhân là vô danh, nhưng hoàn toàn không phải là “vô danh tiểu tốt”… Chân nhân chính là Nhân dân... Đây là khái niệm mới, không có trong Lão Trang. Tôi nghĩ với cách nói ấy, câu thơ sẽ sâu sắc hơn, đa nghĩa hơn, và ý tràn được ra ngoài lời… chứ hoàn toàn tôi không có ý tuyên truyền cho bất cứ một tông giáo nào hoặc viết dưới bất cứ một ánh sáng tông giáo nào, như một vài nhà phê bình đã nhận định...
- Ở “Bản xônát hoang dã” ông đã “Ta một mình với một Đấng Mê Tơi”, đến “45 khúc đàn bầu của kẻ vô danh”, ông lại “Ta phải tạo ra Người/ Hỡi Đấng Âm U…” . Những “Đấng” này có ý nghĩa như thế nào trong nhận thức của ông về cuộc đời, về con người và về thơ?
+ Trong mọi vui buồn của đời người, từ xưa đến nay, với bao ngang trái, vô lý, bất công, thậm chí tàn bạo, đều có một cái gì không hiểu nổi và không giải thích được. Phải có một cái tên được gọi ra. Trước tôi, đã có những cái tên quen thuộc rồi, như: Trời, Phật, Thượng Đế, Bụt, Tạo hoá, Con Tạo, A La, Mô Ha Mét, Chúa, Chúa Tể, Dớt, Thích Ca Mâu Ni, Chân Như, Đạo, Thầy, Ngài... Những cái tên này đã được định danh với một nội dung nào đấy, đã tương đối ổn định, nói chung là được tôn sùng, ngợi ca, tôn kính, lễ bái... Nhưng rõ ràng là nó không thích hợp với yêu cầu của tôi, với điều tôi cần nói.
Do đó, tôi phải sinh ra cái “Đấng” riêng của tôi; một là, để không ảnh hưởng đến hình ảnh đã được tôn kính của các vị (tôi không muốn ai đó, có thể cho là tôi đã xúc phạm đến các vị); hai là, tôi có chỗ mà giãi bày, kêu ca, trách móc, thậm chí để chế giễu, lên án… Tại sao lại không lên án hoặc chế giễu, nếu nó cần phải như thế? Hai Đấng ấy đã ra đời vì vậy. Đó là Đấng Âm U và Đấng Mê Tơi. Sở dĩ có hai Đấng khác nhau vì có hai vùng ảnh hưởng khác nhau. Đấng Âm U điều hành số phận con người, bí ẩn và tàn bạo hơn, nên chân dung tôi vẽ ra như sau: “Một nửa gương mặt Người bừng lên ánh sáng của thần linh/ Một nửa gương mặt Người phủ đầy bóng tối của ma quỷ...”. Phải có nội dung ấy của hình tượng Đấng Âm U, tôi mới có cơ sở để viết: “Con Người là những giọt nước mắt/ Của Đấng Âm U rơi xuống trần gian/ Giọt nước mắt bên phải là đàn ông/ Giọt nước mắt bên trái là đàn bà…/ Chúng lẫn trong nhau/ Mà hoá ra bát ngát…”.
Còn Đấng Mê Tơi, chế ngự trong tâm linh con người, nên thanh thoát hơn, gần gũi và cũng vui vẻ hơn: “Người vắt dải râu trắng ba ngàn thước/ Sang một bên trời/ Và phấp phới đi/ Như một cô gái non trong ngày cưới...”.
Trong thơ đương đại Việt Nam, hình như việc sáng tạo ra những “nhân vật siêu nhiên” như thế chưa thấy tác giả nào làm cả. Vì vậy, lúc đầu cũng có người không hiểu, có vẻ lạ lẫm… Nhưng bây giờ thì nó đã là đề tài, ít nhất trong 4 Luận văn thạc sĩ khoa học Ngữ văn nghiên cứu về thơ tôi mà tôi biết…
- Người ta thường cho rằng cái cốt lõi của văn xuôi là hiện thực cuộc sống; còn cái cốt lõi của thơ là cảm xúc. Với ông, điều đó có đúng không?
+ Dĩ nhiên là đúng rồi. Nhưng nói chung, chẳng cứ văn xuôi, mà thơ, thậm chí nói rộng ra, là việc sáng tác văn chương nghệ thuật, đều từ cái cốt lõi là cuộc sống con người mà ra. Vấn đề là nó được nhìn dưới lăng kính nào, và cái hiện thực ấy được “chưng cất” theo cách nào mà thôi! Với tôi, bất cứ đi đâu, làm việc gì, cũng là đi sáng tác, phải viết được một hay hai cái gì cho kha khá một chút. Không ít bài thơ của tôi được viết trong các chuyến đi. Và chỉ đi lần đầu mới viết được; lần sau, vẫn cảnh ấy người ấy, nhưng tôi thấy nó rất nhạt, mất hết cảm xúc. Từ đó, tôi không đi đâu lần thứ hai; vì tôi thấy với tôi như thế là lãng phí sức của, sức người, chả để làm gì…
- Sau “Miền dân gian mây trắng” (xuất bản lần đầu năm 2008) đậm phong vị ca dao, được biết ông đang chuẩn bị cho ra mắt công chúng tập thơ thứ 17. Ông có thể tiết lộ cho bạn đọc đôi nét về tập thơ mới này không? Vì sao ông lại lấy tên tập thơ là “Cánh rừng đã bay về trời”? Liệu đây có phải lại thêm một lần nữa nhà thơ Trần Nhuận Minh đang “tự làm mới mình”?
+ Chuyện bắt đầu từ việc báo Nghệ thuật Mới số 3 (tháng 4-2012) có bài giới thiệu và đăng chùm thơ gồm 16 bài của tôi trong mục “VIP của Nghệ thuật Mới”. Ngày hôm sau, tôi nhận được điện thoại của nhà thơ Hữu Thỉnh. Ông bảo: “Với chùm thơ mới này, thơ Trần Nhuận Minh đã vượt trội…!”. Sau đó, trong bài viết Một nền thơ đang chuyển (in trên tạp chí Thơ số 5/2012), ông lại nhấn mạnh: “Trần Nhuận Minh có đến mấy giai đoạn bứt phá. Vạm vỡ, gan ruột, nhiều tầng vỉa, đó là Trần Nhuận Minh. Đọc chùm thơ mới của anh gần đây, tôi bần thần, ngạc nhiên và cảm phục về sức nghĩ, sức làm việc, về tiếng kêu “rỏ máu năm đầu ngón tay” của anh…”. Ông còn khuyên tôi nếu đủ số lượng thì cho in thành tập… Và thế là tập thơ thứ 17 của tôi ra đời. Thực ra, tôi đã có ý định từ nhiều năm nay để hoàn thành 3 tập bản thảo để in riêng, gồm: tập Đốm lửa, thơ viết thật ngắn về những biến cố thật dài, tập Hoàn Nguyên, thơ văn xuôi, viết trong giọng độc thoại và tập Khúc vĩ cầm mùa thu, tập hợp những bài tôi viết trong chuyến đi các nước Tây bán cầu… Nhưng tôi thấy sức khoẻ và thời gian không cho phép tôi đi đến tận cùng, nên đành “ăn non”, chọn một số bài tiêu biểu nhất trong cả 3 tập ấy, làm thành 1 tập chung, gồm 46 bài (trong đó có 16 bài đã in báo Nghệ thuật Mới mà tôi nói ở trên)…
Còn vì sao tôi đặt tên tập thơ là Cánh rừng đã bay về trời ư? Đơn giản đó là một câu thơ trong tập, nói về một thảng thốt của cảm xúc trước sự hạn hữu của thiên nhiên, của kiếp người và mối tương tác giữa hai đại lượng đó với nhau. Tôi thấy nó có nhiều ý nghĩa, vì rất có thể, đây sẽ là tập thơ cuối cùng của tôi. Còn liệu nó có hay hơn các tập trước không? Có thực sự “vượt trội” không? Có “tự làm mới mình” không? Tôi dành mọi phán quyết ấy cho bạn đọc. Chỉ dám nói, tôi đã và đang cố gắng cao nhất để hoàn thành những phần việc cuối cùng. Bởi thú thực với bạn, sau 50 năm chăm chỉ cầm bút, bây giờ tôi mới ngẫm thấy: tôi đã “đánh cược” cả cuộc đời mình vào thơ mất rồi: “Tôi đã tự đánh mất mình/ Tất cả/ Trong một câu thơ/ hờ hững bạn cầm…”...
- Xin cảm ơn nhà thơ và chúc ông nhiều sức khoẻ để tiếp tục mang đến những cảm xúc mới lạ cho độc giả với những sáng tác mới mà ông đang ấp ủ…
Quốc Huấn
| NHÀ THƠ TRẦN NHUẬN MINH Các tác phẩm thơ đã xuất bản: |