Triều đình nhà Nguyễn đã bán mỏ than cho Pháp như thế nào?

Theo các tài liệu tiếng Pháp lưu trữ tại Bảo tàng Quảng Ninh, ngay từ năm 1865, người Trung Quốc đã tiến hành khai thác các vỉa than ở Hòn Gai. Năm 1881, viên Công sứ Pháp Fuche Saladin đã đến Hòn Gai nghiên cứu về các mỏ than.

Mỏ than Hà Tu (người Pháp gọi là Mines de Hatou) là một trong các mỏ lộ thiên người Pháp khai thác sớm nhất sau khi chiếm Hòn Gai.
Mỏ than Hà Tu (người Pháp gọi là Mines de Hatou) là một trong các mỏ lộ thiên người Pháp khai thác sớm nhất sau khi chiếm Hòn Gai.

Đầu năm 1883, được tin triều đình nhà Nguyễn đang có ý định nhượng quyền khai thác khu mỏ than Hòn Gai cho một công ty người Hoa ở Quảng Đông và công ty này có thể sẽ nhượng lại cho người Anh nên ngay sau khi đánh chiếm Bắc Kỳ, ngày 12-3-1883, viên trung tá hải quân Pháp Henri Rivière (1827-1883) liền đem quân đánh chiếm Quảng Yên, chiếm lấy mỏ than Hòn Gai và đặt 1 đồn binh canh giữ gồm có 25 binh sĩ.

Ngày 6-6-1884, Chính phủ Pháp ký kết một hiệp ước với triều đình nhà Nguyễn, trong đó có điều khoản số 18 nghiêm cấm tuyệt đối việc khai thác bất kỳ một mỏ than nào ở Bắc Kỳ trước khi thoả thuận khai thác được chấp nhận. Đại diện Chính phủ Pháp là Tổng công sứ Victor Gabriel Lemaire và đại diện triều đình nhà Nguyễn là quan Tổng quản triều đình Phạm Thận Duật đã ký hiệp ước trên.

Ngày 26-7-1884, Phạm Thận Duật thay mặt triều đình Huế ký nhượng bán mỏ than Hòn Gai cho đại diện tư bản Pháp là Bavie Chauffour với sự chứng thực của các quan đại thần trong triều gồm Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết, Gia Hưng Quận Vương và một linh mục là Cha Thơ. Nội dung văn tự bán mỏ này đã được đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 3, 1984 của Viện Sử học. Văn tự bán mỏ gồm 10 điều. Chỉ với 40.000 Mễ Tây Cơ (đồng bạc Mexico- một trong các loại tiền lưu hành tại Việt Nam thế kỷ 19), triều đình Huế đã nhượng cho tư bản Pháp phần lãnh thổ từ kinh tuyến 104o37, đến 104o43, và khoảng từ vĩ tuyến 20o57, đến 21o02, có chiều dài 10km, rộng 8km “cùng với tất cả cây trồng, sông ngòi; tất cả những chất nào tìm thấy trên bề mặt và lòng đất”. Thời hạn chuyển nhượng là 100 năm tính từ ngày ký. Theo thoả thuận, Bavie Chauffour có quyền xây dựng bất cứ công trình nào trên nhượng địa và thời hạn cuối cùng phải trả tiền là ngày 31-8-1886. Hàng năm, Bavie Chauffour chỉ phải nộp thuế bằng 1% so với lợi tức ròng của việc khai thác, khấu trừ các khoản phí tổn và những khoản thuế đảm phụ nào đó.

Theo Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 3-1984 dẫn theo tài liệu niên giám thống kê Đông Dương và báo cáo của Sở mỏ Đông Dương, sau khi mua được quyền khai thác than ở Quảng Yên (gồm Hòn Gai, Cẩm Phả), tư bản Pháp đã sang nhượng lại cho các công ty của nước ngoài và một số doanh nghiệp, tư nhân của Việt Nam khai thác. Cao điểm nhất là năm 1932, số nhượng địa than ở Quảng Yên là 181 với diện tích 193.000ha. Năm 1890, sản lượng khai thác than của tư bản Pháp ở Hòn Gai là 3.000 tấn, năm 1900 lên 201.000 tấn, năm 1930 là 1.955.000 tấn. Tính từ năm 1890 đến 1945, sản lượng cao nhất là năm 1939 đạt 2.615.000 tấn. Để khai thác than ở mỏ, các công ty Pháp đã tuyển công nhân từ các tỉnh Bắc Kỳ. Năm 1911, toàn khu mỏ có 8.223 công nhân, năm 1939 tăng lên 55.000 công nhân và đến năm 1945 giảm còn 4.000 công nhân.

Thoả thuận nhượng bán khu mỏ của triều đình Huế cho Bavie Chauffour là 100 năm. Tính đến khi khu mỏ giải phóng, được ta tiếp quản (25-4-1955), thời gian mới được 71 năm. Hẳn khi ký văn tự bán mỏ, các quan đại thần nhà Nguyễn chẳng thể hình dung lịch sử lại xoay chuyển như vậy.

Trần Minh

Cùng chuyên mục