"Trường Sơn ngày ấy" - Câu chuyện của "người trong cuộc"

Tập truyện ký “Trường Sơn ngày ấy” của Tùng Lâm vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành, viết về những năm tháng anh đã cầm lái lăn lộn gần chục năm trên đường Trường Sơn gian lao và anh dũng...

Trang bìa tập truyện.
Trang bìa tập truyện.

Với chỉ mười một bài viết, nhưng tác giả đã cho chúng ta sống lại một thời quá khứ chưa xa. “Vào trận” là khúc mở đầu hùng tráng cho những người đã đi qua cuộc chiến tranh thấy lại mình một thuở hào hùng. Sức xuân tuổi hai mươi bỗng ào ạt ùa về. Những đoàn người đưa tiễn đứng kín hai bên đường, nụ cười long lanh nước mắt, tiếng trống ếch rộn ràng, những lứa đôi nghẹn ngào bịn rịn. Hình ảnh một ông già đang giơ nhát cuốc ngang đầu, trông thấy đoàn quân hiên ngang ra trận. Cảm xúc dâng dâng ông quên cả việc đang làm là bổ nhát cuốc xuống ruộng, mắt cứ trân trân đứng như thế nhìn theo. Những cánh thư như bươm bướm ném xuống mặt đường, đoàn người lao xao đón nhận… Đấy là hình ảnh tiêu biểu mà một thời hậu phương tiễn đưa những đứa con yêu quý ra mặt trận.

“Trường Sơn ngày ấy” của Tùng Lâm đã cho người đọc hiểu và cảm nhận sâu xa về chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Đó là những hình ảnh tiêu biểu nói về người chiến sĩ lái xe Trường Sơn Hà Văn Vấn. Người được phong danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Cấp trên lệnh xuống cho đơn vị “bắt” anh phải nghỉ ngơi trong nhà hầm để được an toàn tính mạng chờ giao liên đưa ra miền Bắc đào tạo cán bộ nguồn. Nhưng anh không cầu an, còn một ngày ở chiến trường cũng phục vụ hết mình. Anh đã nêu tấm gương tận tụy can trường, cần mẫn, yêu xe như con, quý xăng như máu. Năm năm cầm vô lăng trong tuyến lửa vượt hàng vạn cây số, chở hàng ngàn tấn hàng vẫn giữ xe an toàn. Tinh thần quả cảm gan góc mà bình dị của anh là tấm gương cho những chiến sĩ trẻ như Bách noi theo. Anh đã đào tạo truyền dạy cho họ có thêm kinh nghiệm, bản lĩnh vượt qua mọi hiểm nguy để hoàn thành nhiệm vụ. Còn tiểu đoàn trưởng Sính, quê Hải Phòng, không ngồi hầm chỉ huy sở ra lệnh chung chung mà mỗi lần đơn vị xuất kích là mỗi lần có mặt bám xe, ngồi bên chiến sĩ lái để kịp thời chỉ đạo khi gặp tình huống...

Nói đến chủ nghĩa anh hùng cách mạng là nói đến sự can trường dũng cảm không sợ hy sinh của người chiến sĩ. Trong suốt mười câu chuyện mà Tùng Lâm kể trong “Trường Sơn ngày ấy”, chuyện nào cũng gặp những con người đó. Họ là những chiến sĩ lái xe, những chiến sĩ công binh phá bom mở đường, những con người bình dị nhưng rất đỗi can trường dũng cảm. Đó là vợ chồng ông già trong “Cung đường ông lão”. Hễ có xe sa lầy là vợ chồng ông xuất hiện giúp đỡ. Một lần xe Bách bị lún xuống hố bom, họ đã chặt cây nhãn cuối cùng trong vườn nhà để cứu xe. Đúng là Tổ quốc trên hết, còn non sông đất nước là còn tất cả. Những người dân ấy đã đặt lợi ích quốc gia lên trên quyền lợi riêng mình.

Đọc “Trường Sơn ngày ấy” của Tùng Lâm, điều làm chúng ta ám ảnh mãi vẫn là những chi tiết trong hai chuyện “Đèo giăng gió” và “Những bông hồng lửa”. Ở Đèo giăng gió, hình ảnh những cô gái Trường sơn treo mình lơ lửng trên vách đá như những con nhện giăng mành để đục đá mở đường thông tuyến khiến ta vừa khâm phục lại vừa lo lắng. Ngoài cái chết do bom đạn rình rập còn những hiểm nguy liền kề như sảy chân, đá lở, đứt dây… Còn Những bông hồng lửa lại là câu chuyện tình hiếm hoi trong tập sách. Một câu chuyện tình đẹp đến lung linh ngẫu nhiên nảy nở giữa chàng trai lái xe Tùng Bách với Út Tươi, nữ chiến sĩ biệt động vừa thoát khỏi nhà giam của kẻ thù. Tuổi xanh tràn khát vọng bị kìm nén trong chiến tranh, họ gặp nhau theo “tiếng sét ái tình”… Họ hẹn hò tìm nhau ngày thống nhất đất nước. Nhưng hạnh phúc chẳng vuông tròn cho họ. Trong chuyến hàng cuối cùng anh chở vào Tây Ninh phục vụ cho Chiến dịch Hồ Chí Minh đầu xuân năm 1975, xe trúng bom, Bách bị trọng thương thành người tàn phế… Nghĩ đến Út Tươi, không muốn em phải chịu thiệt thòi, Bách đã viết một lá thư đoạn tình gửi vào Kinh A - Cái Sắn - Rạch Giá để huỷ lời hẹn ước. Nào ngờ anh nhận được hồi âm của gia đình Út Tươi báo hung tin: Út Tươi đã hy sinh trên giường bệnh tại viện Quân y 108. Bách ôm nỗi đau xa xót đến tận cùng… Anh tập tễnh rê đôi nạng gỗ ra vẫy xích lô đưa đến nghĩa trang…


Thực ra, công bằng mà nói, “Trường Sơn ngày ấy” chưa phải đã hoàn hảo, nhưng cái đáng quý là tác phẩm đã bổ sung nhiều tư liệu văn học mới về cuộc kháng chiến chống Mỹ thần thánh. Nhất là ở đây, tác giả lại là người trong cuộc, một thương binh nặng, chỉ còn một chân, dịch chuyển rất khó khăn. Ngoài ra, sọ não và trong buồng ngực vẫn còn găm mảnh bom đạn chiến tranh. Đôi mắt chỉ còn lại chút ánh sáng mờ mờ… Những câu chữ anh gõ ra trên bàn phím cũng khó khăn như đánh vật. Và “Trường Sơn ngày ấy” được viết ra trong hoàn cảnh ấy. Chỉ thế thôi cũng đáng để trân quý, khâm phục rồi.

Nguyễn Duy Liễm (CTV)

Cùng chuyên mục