Trong tổng số 608 di tích đã được kiểm kê, phân loại của tỉnh, ngoài các di tích quốc gia đặc biệt, di tích quốc gia, Quảng Ninh hiện có 72 di tích đã được xếp hạng cấp tỉnh. Việc bảo tồn và phát huy giá trị di tích trước và sau khi xếp hạng với các di tích này hiện khá nan giải. Để làm rõ hơn những vấn đề này, phóng viên đã có cuộc trò chuyện với đồng chí Hồ Chí Đức, Phó Giám đốc Sở VH-TT Quảng Ninh.
- Việc xếp hạng cấp tỉnh ngoài ý nghĩa nâng tầm đối với di tích, các di tích còn “được” gì thêm nữa không, thưa đồng chí?
+ Cơ bản các di tích đề nghị xếp hạng cấp tỉnh có tuổi hàng trăm năm, trải qua thời gian mưa nắng, chiến tranh... phần nhiều đã trở thành phế tích; một số di tích được nhân dân vận động kinh phí tu sửa, tôn tạo ở mức nhất định thôi. Khi di tích chưa được xếp hạng thì chưa có ranh giới khoanh vùng bảo vệ nên xung quanh, người dân vẫn có thể lấn chiếm được. Theo quy định hiện hành, đối với di tích cấp tỉnh thì vốn tu bổ, tôn tạo do cấp huyện bố trí nên những di tích chưa được xếp hạng rất khó cho việc tu bổ, tôn tạo vì không có kinh phí. Thêm nữa, di tích chưa được xếp hạng thì cũng chưa thể thành lập Ban quản lý di tích mà chỉ có thể cắt cử người trông nom.
Sau xếp hạng cấp tỉnh, các di tích sẽ được khoanh vùng bảo vệ, nằm “trong ô” kinh phí cấp huyện đầu tư và được thành lập ban quản lý thường xuyên trông coi di tích. Tuy nhiên, cũng có một thực tế là cho đến nay chỉ khoảng 1/3 số di tích kể trên đã được trùng tu, tôn tạo và trùng tu chủ yếu từ nguồn vốn xã hội hoá. Trong đó, đa số rơi vào các di tích tôn giáo (chùa), còn lại các di tích tín ngưỡng (đình, đền, miếu, nghè...) cơ bản vẫn đang “dậm chân tại chỗ”, chưa được đầu tư thoả đáng.
- Có không ít di tích cấp tỉnh vì vậy đã bị bỏ hoang hoá. Liệu đã có quy định nào ràng buộc về việc bao lâu sau xếp hạng thì địa phương phải bố trí kinh phí đầu tư trùng tu, tôn tạo di tích hay điều kiện hạ cấp di tích không?
+ Lộ trình tỉnh đặt ra đến 2020 là 90% di tích cấp tỉnh được tu bổ, tôn tạo. Chỉ tiêu này sẽ khó hoàn thành nếu không có sự nỗ lực cao hơn trong những năm tới, vì qua thực tế thống kê kể từ 2012 đến nay, khi Sở VH,TT&DL (nay là Sở VH-TT) được chủ trì thẩm định trình phê duyệt các dự án tu bổ, tôn tạo di tích theo Nghị định 70, chỉ có hơn chục di tích được tu bổ, tôn tạo (gồm cả di tích quốc gia, quốc gia đặc biệt). Như vậy, tỷ lệ di tích cấp tỉnh được tu bổ hàng năm là rất ít.
Một số địa phương hiện cũng có những cách làm riêng, như TX Đông Triều đã có Nghị quyết được HĐND thị xã thông qua, đó là vào giai đoạn chuẩn bị đầu tư thì sử dụng ngân sách thị xã, còn khi xây dựng thì sử dụng vốn xã hội hóa, do ban quản lý di tích các xã, phường chịu trách nhiệm huy động kinh phí. Tuy vậy, không phải địa phương nào cũng làm được như vậy, nhất là các huyện miền Đông. Hiện nay chưa có quy định nào, cả cơ chế của tỉnh cũng như Luật Di sản văn hoá có điều kiện ràng buộc về việc bao lâu sau xếp hạng thì phải bố trí kinh phí đầu tư trùng tu, tôn tạo di tích cả. Một số địa phương cũng xây dựng kế hoạch hàng năm, đưa vào chỉ tiêu số lượng di tích xếp hạng, tu bổ nhưng phần kinh phí cũng không nói đến.
Luật Di sản văn hoá có nói đến việc di sản (cả vật thể và phi vật thể) sau xếp hạng, công nhận danh hiệu, qua một thời gian theo dõi mà không đủ các tiêu chí thì đưa ra khỏi danh mục bình thường. Với di tích thì tiêu chí xếp hạng được đưa ra ngay khi lập hồ sơ, như: Có giá trị tiêu biểu cho địa phương, hay còn những hiện vật có giá trị... Vì vậy, chỉ có trường hợp đã xếp hạng rồi nhưng đập phá đi, mất các dấu tích của di tích gốc thì mới tiến hành đưa ra khỏi danh mục hoặc cấp xếp hạng. Tuy nhiên, trên địa bàn tỉnh những năm qua cũng chưa có trường hợp di tích nào bị đưa ra khỏi danh mục hay cấp xếp hạng.
- Trở lại vấn đề kinh phí huy động xã hội hóa tu bổ di tích, đồng chí lý giải gì về việc các di tích tôn giáo dễ huy động hơn và ngược lại kiểu “nhất bên trọng, nhất bên khinh”? Liệu có phải do di tích không còn phù hợp, không phát huy được giá trị trong đời sống hiện nay thì người ta không quan tâm trùng tu, bảo tồn?
+ Di tích thì không thể nói cái nào hơn, cái nào kém, cái nào ảnh hưởng nhiều, cái nào ít. Chỉ có điều, xu hướng bây giờ, công trình tôn giáo thì dễ vận động xã hội hóa trùng tu, tôn tạo hơn; các công trình tín ngưỡng chưa được quan tâm đúng mức, rất khó huy động, có thể cũng bởi tín ngưỡng của người dân, chùa với người dân thì gần gũi, thiết thực hơn. Tuy nhiên, cũng vì vậy mà nhiều nơi phải “đánh đổi” theo kiểu giao cho các sư trụ trì đầu tư chùa đi kèm với việc xây dựng đền, miếu. Câu chuyện này sẽ tạo ra hệ lụy, rất khó cho công tác quản lý nhà nước sau này.
Đúng như bạn nói, xét đến cùng thì trách nhiệm tu bổ, tôn tạo di tích thuộc về địa phương, bởi nếu địa phương thật sự quan tâm thì chí ít một năm cũng phải làm được 1 di tích. Nhưng có một vấn đề thế này, các di tích cấp tỉnh trên địa bàn nếu bây giờ trùng tu, tôn tạo thì nhiều di tích phải đập đi làm lại, vì hầu hết các di tích chỉ còn nền móng gốc, công trình phía trên do đời sau xây dựng, kinh phí nhỏ lẻ, chắp vá nên chỉ như một ngôi nhà bình thường chứ không theo một kiến trúc chuẩn nào cả. Và để đầu tư cần cả chục tỷ đồng cho 1 di tích, với mức kinh phí đó địa phương rất khó cân đối.
- Từ việc huy động kinh phí xã hội hóa thì khâu quản lý trong và sau trùng tu liệu có đảm bảo theo các quy trình cần thiết theo quy định, đảm bảo các yếu tố gốc của di tích không?
+ Hiện nay, sau khi tỉnh phê duyệt dự án (với di tích là công trình tín ngưỡng) thì giao về cho địa phương (cấp huyện) làm chủ đầu tư, huyện lại giao lại cho xã, phường làm chủ đầu tư, trực tiếp quản lý dự án trong và sau đầu tư. Khi các xã làm chủ đầu tư, công tác quy hoạch, giám sát được làm khá tốt vì họ “có nghề” hơn. Với các di tích tôn giáo thì giao sư trụ trì làm chủ đầu tư, họ huy động và quản lý nguồn vốn xã hội hóa cũng như dự án và công trình sau đầu tư. Qua đánh giá từ năm 2012 đến nay cho thấy, khi các sư trụ trì đầu tư dự án thì chưa chặt chẽ lắm trong quá trình giám sát thi công, không thuê tư vấn giám sát, chưa có nhật ký thi công, cá biệt tự ý điều chỉnh hồ sơ thiết kế... một phần do nguồn vốn huy động xã hội hóa gồm cả về kinh phí, nhân công, nguyên vật liệu... Như vậy, việc thực hiện quy trình đầu tư với các công trình di tích tôn giáo, tín ngưỡng tâm linh vẫn còn nhiều bất cập, cần được tiếp tục tháo gỡ trong thời gian tới đây.
- Xin cảm ơn đồng chí về cuộc trò chuyện!
Phan Hằng (Thực hiện)