Về chốn vô thường

Đại đức Thích Trung Huệ, Thư ký Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử, mở toang các cửa trong phòng khách. Làn gió mang theo mùi thơm của hàng nghìn loài hoa cỏ, xộc vào trong phòng. Buổi sáng sớm, Thiền viện còn vắng khách. Ngoài sân, chỉ có bóng dáng của vài vị hoà thượng đang làm nhiệm vụ thường nhật, và những tia nắng sớm xuyên qua mấy ngọn thông già, lấp lánh chiếu dưới chân...

Cảnh mộng lúc bình minh

Hẳn nghĩ chúng tôi lên Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử với mục đích đầu tiên là viết bài, nên vừa nghe giới thiệu là nhà báo, Đại đức Thích Trung Huệ đã lục tìm rồi đưa cho chúng tôi bản Quy chế hoạt động của Chùa Lân - Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử. Theo bản Quy chế này, Chùa Lân - Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử là nơi chuyên tu thiền, theo tông chỉ pháp phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử đời Trần. Mọi hoạt động của Chùa Lân - Thiền viện nhằm khôi phục, bảo tồn, tôn vinh bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam và Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử; tạo duyên lành (điều kiện tốt) cho những ai thiết tha muốn thể nghiệm chân lý, phát triển tuệ giác, hướng đến giác ngộ giải thoát, đúng với mục đích, lý tưởng của người tu theo đạo Phật...

Cũng như hàng ngàn, hàng vạn khách lòng trần chân bước tới đây, chúng tôi chưa kỳ vọng tới con đường giác ngộ, giải thoát, mà chỉ để lòng mình có những giờ phút hiếm hoi được thả lỏng, buông bỏ những âu lo, phiền muộn, những toan tính cho cuộc sống đời thường. Hay nói theo cách đơn giản của nhà báo Hữu Việt đi cùng, chúng tôi đến Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử để xả stress. Quả vậy! Không gian và cảnh vật nơi đây dễ làm người ta liên tưởng tới cảnh trong mộng. Mặt trời vừa ló ra khỏi tầng mây, thảm cỏ và hoa lá xung quanh Thiền viện bừng sáng. Có một khoảnh khắc lặng gió, hàng cây ngọn cỏ đang dồn dập bỗng im lìm như ngủ. Giữa lúc ấy, tiếng chuông đâu đó vang lên nhè nhẹ, điểm vào không gian sự yên bình, thư thái đến lạ kỳ.

Một buổi toạ thiền của các vị hoà thượng Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử.
Một buổi toạ thiền của các vị hoà thượng Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử.

Ấy vậy mà cảnh đẹp kia chỉ là “Vô thường”, như trong cuốn sách mà hoà thượng Thích Trung Huệ tặng chúng tôi, viết rằng: “Vạn vật trên thế gian là vô thường”. Từ con người đến muôn vật luôn chuyển biến liên tục như dòng thác đổ không một phút giây ngừng nghỉ. Nơi con người, tế bào này sinh ra thì tế bào kia dị diệt, mãi đến khi thân này hoàn toàn bại hoại. Ở sự vật, các nguyên tử cũng quay cuồng sinh diệt, thay đổi không bao giờ dừng. Vậy vô thường là không thường còn, không mãi mãi ở yên trong một trạng thái cố định, luôn thay đổi hình dạng, đi từ trạng thái hình thành, đến thay đổi rồi tan rã... Trên Thiền đường Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử, có một bài thơ của hoà thượng Thích Thanh Từ mang tựa đề Mộng, cũng viết: Gá thân mộng/ Dạo cảnh mộng/ Mộng tan rồi/ Cười vỡ mộng/ Ghi lời mộng/ Nhắn khách mộng/ Biết được mộng/ Tỉnh cơn mộng.

Nắm được cái lý vô thường ấy, người tu thiền chủ trương “Xoay lại tìm mình để thấy rõ chân tướng chính mình”. Phương pháp này gọi là “Phản quan tự kỷ”, chính là pháp tu thiền.

Đêm trên Thiền đường

Đã nhiều lần tới Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử, nhưng đây là lần đầu tiên tôi lưu trú lâu đến vậy. Khoảng thời gian từ sáng tới khuya đủ để chúng tôi chứng kiến sinh hoạt nghiêm khắc, thanh đạm của các vị thiền sư. Thời khoá của chúng tăng từ khi thành lập Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử vào năm 2002, đến nay vẫn chưa một ngày thay đổi. 3 giờ 15 phút là thời điểm thức dậy để bắt đầu một ngày mới. 3 giờ 30 phút, tiếng chuông trên Thiền đường được gióng lên 3 tiếng, báo hiệu thời điểm toạ thiền đầu tiên trong ngày (một ngày toạ thiền 3 lần, mỗi lần 2 tiếng). Từ 5 giờ 30 phút đến 13 giờ là khoảng thời gian tiểu thực (ăn nhẹ), lao tác (làm việc) và thọ trai (ăn trưa và các nghi thức kèm theo). Sau một giờ nghỉ trưa, 14 giờ 30 phút là các vị hoà thượng lại quy tụ về Thiền đường để toạ thiền. Buổi tối, bắt đầu từ 18 giờ 15 phút, lời kinh sám hối vang lên từ toà chính điện, trước khi buổi toạ thiền cuối cùng trong ngày bắt đầu lúc 19 giờ 30 phút.

Hoa lan ở Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử.
Hoa lan ở Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử.

Buổi tối trên Thiền viện, khung cảnh u tịch khác hẳn với vẻ sống động, sắc màu vui nhộn lúc ban ngày. Khi lời kinh nguyện sám hối từ toà chính điện vừa dứt, bản dạ khúc của ngàn vạn côn trùng từ bốn phương đã vang lên trong màn đêm tối sẫm. Các vị hoà thượng lặng lẽ trở về phòng của mình, chờ đến giờ toạ thiền sắp tới. Chúng tôi ngồi ghế đá trước cửa La Hán đường. Đêm đen thần bí khiến chúng tôi bị kích động, phấn chấn đến căng thẳng. Nhà báo Hữu Việt chợt quay sang tôi nói: “Sáng nay tôi thấy đi tu sướng, nhưng bây giờ thấy khổ thật ông ạ!”. Theo quan niệm của những kẻ phàm phu như chúng tôi, sống trong cảnh tịch liêu, cô quạnh như thế này là khổ. Hay một ngày chỉ ăn hai bữa, bữa tối nhịn ăn, lại phải dậy từ 3 rưỡi sáng để toạ thiền... cũng khổ nốt! Nhưng theo hoà thượng Thích Trung Huệ: “Sách Phật dạy rằng, bữa sáng là chư Phật ăn, bữa trưa chư Thiên ăn, bữa tối là bữa của súc sinh, ngã quỷ. Vì khi ăn bữa tối, lòng tham và dục vọng sẽ nổi lên, cản trở con đường tu tập hướng đến giải thoát”...

Hoà thượng Thích Kiến Viên dù đã 83 tuổi vẫn bước đi chắc nịch qua mấy chục bậc thang, tay cầm đèn pin soi lối cho chúng tôi bước tới Thiền đường. Sau này, khi ngồi trò chuyện trong phòng riêng của hoà thượng, chúng tôi mới được biết, trước khi xuất gia, Hoà thượng Thích Kiến Viên đã từng là Thiếu tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam, từng tham gia nhiều trận đánh lịch sử qua 2 cuộc kháng chiến (vì lý do riêng, hoà thượng xin phép không ghi tên thế tục của ông trên mặt báo).

Thiền đường là một toà nhà 2 tầng được xây dựng theo lối cổ, tầng 2 là nơi dành cho tăng chúng toạ thiền. Đúng 19 giờ 30 phút, bài kệ hô thiền cất lên, nghe u vang như lời bài hát của một bộ tộc nào đó giữa đại ngàn. Sau bài kệ hô thiền, mấy chục vị thiền sư ngồi xếp thành 4 hàng, chậm rãi lấy các dụng cụ toạ thiền đặt xuống chỗ của mình. Dụng cụ toạ thiền gồm: 1 bồ đoàn tròn; 1 tấm đệm vuông trải dưới, bồ đoàn đặt lên trên và 1 gối nhỏ dùng để kê bên trên lòng bàn chân trũng. Toạ thiền có 3 giai đoạn là Nhập - Trụ - Xuất. Đến giờ nhập thiền, người tu ngồi lên bồ đoàn, xương sống thẳng giữa bồ đoàn, nghiêng qua nghiêng lại cho yên ổn mới kéo chân ngồi. Có 2 thế ngồi là kiết già và bán già. Ngồi bán già là kéo chân trái gác lên đùi phải hoặc ngược lại, tuỳ theo chiều thuận của mỗi người. Ngồi kiết già là kéo chân trái gác lên đùi phải, đồng thời chân phải gác lên đùi trái, hoặc ngược lại cũng được. Bàn tay phải để lên trên bàn tay trái, đặt trên lòng bàn chân, 2 đầu ngón tay cái vừa chạm vào nhau. 2 khuỷu tay đối xứng với 2 bả vai. Ngồi lưng thẳng vừa phải, không quá ưỡn cũng đừng để cong, đầu hơi cúi. Ngồi yên, gương mặt bình thản, vui tươi. Mũi hít vào đều nhẹ, tưởng như không khí trong sạch vào khắp châu thân, rồi hé miệng thở ra sạch, tưởng như phiền não, bệnh hoạn đều theo hơi thở ra ngoài. Thở như vậy 3 lần rồi ngậm miệng lại, môi và răng vừa khít nhau, lưỡi để lên trên. Từ đây đến lúc xả thiền chỉ hít thở bình thường bằng mũi đều đều, nhẹ nhẹ.

Thấy chúng tôi tỏ vẻ chăm chú học thiền, hoà thượng Thích Kiến Viên giảng giải: Trụ thiền có 3 phương pháp dành cho người mới học, đó là: “sổ tức quán” (quan sát và đếm hơi thở); “tuỳ tức” (theo dõi hơi thở), hơi thở ra vào tới đâu là biết tới đó; “tri vọng” (biết vọng). Khi bắt đầu trụ thiền, người tu tập theo dõi hơi thở vài phút cho ổn định, sau đó buông hơi thở để tâm an định. Ngồi lâu, nếu mơ màng ngủ gục thì  mở mắt sáng ra, chấn chỉnh thân tâm phấn chấn, trang nghiêm lại. Nghe ngực lặng, tim hơi nhói là do ngồi thẳng quá, hơi thở không thông, nên phải thả lỏng xuống một chút. Thấy nhức xương sống là biết ngồi hơi cong, phải thẳng lên. Nếu đau hông là do ngồi nghiêng; nếu nhức một bên vai coi chừng 2 vai không ngang nhau, một bên bị lệch xuống; nếu nhức cả 2 vai là do gồng 2 tay, phải nới lỏng ra, toàn thân ở trong tư thế thư giãn; đau mông là vì ngồi ngửa người ra phía sau.

Thời gian toạ thiền tuỳ theo hoàn cảnh hay điều kiện của từng người mà ngồi lâu hay chóng. Trước khi xả thiền, người tu tập phải đọc bài nguyện, sau đó hít vào thở ra 3 lần, từ nhẹ đến mạnh. Động 2 bả vai lên xuống, mỗi bên 5 lần. Lần lượt các động tác cúi xoay đầu; xoè nắm 2 bàn tay; động thân, xoa mặt, xoa tai, đầu, gáy, cổ... được thực hiện trước khi dời thân khỏi bồ đoàn...

Vài vì sao thấp thoáng phía Tây, ánh trăng thượng tuần mờ ảo không đủ soi rõ các ngả đường trong Thiền viện. Cái bóng đồ sộ của cây thông hơn 700 tuổi đổ trùm xuống càng làm cho lối đi khó trông thấy hơn. Lão hoà thượng Thích Kiến Viên lại phải dùng chiếc đèn pin nhỏ để soi đường cho chúng tôi bước xuống. Đêm càng lúc càng lạnh, tôi mơ hồ rờn rợn nghĩ tới hơn 10km đường rừng từ Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử ra tới đường 18 đầy hiểm trở. Bất giác tự nhủ với lòng mình: Mọi thứ đều vô thường!

Hoà Phu - Hữu Việt

Cùng chuyên mục