Với tư cách và tình cảm của một công dân của tỉnh Quảng Ninh, chúng tôi cũng như nhiều người dân khác rất vui mùng và tự hào về quê hương mình năm 2014 có một công trình văn hoá mới. Đó là Khu văn hoá núi Bài Thơ. Với tình cảm trân trọng ấy, chúng tôi xin mạnh dạn góp một số ý kiến về một số hạng mục mỹ thuật trong công trình văn hoá này.
Thứ nhất, đó là bài thơ Lê Thánh Tông khắc trên vách núi Truyền Đăng từ 1468 đến nay đã 546 năm. Khách đến tham quan núi Bài Thơ vẫn chưa nhìn thấy bản nguyên tác chuẩn xác. Trên vách núi hiện nay chỉ là một mảng đen xì bụi mờ khói xám. Bên dưới có 3 bia đá. Một bia ghi lại bản chữ Hán bài thơ của Đức vua nhưng lại sai lệch tới 14 chữ. Cho nên từ đó, các bản phiên âm, dịch nghĩa cũng sai theo.
Tiếp đến là công trình chào mừng 50 năm thành lập tỉnh Quảng Ninh rất quy mô và hoành tráng ở phía trên gọi là “Truyền Đăng sơn từ”. Ngay cổng vào là một tấm bình phong bằng đá. Mặt trước khắc ghi chữ Hán bài thơ của chúa Trịnh Cương hoạ bài thơ Lê Thánh Tông. Mặt sau đối diện với đền thờ có khắc bài chữ Hán gọi là thơ Lê Thánh Tông. Nhưng đã là thơ Lê Thánh Tông khắc trên vách núi là phải đủ 2 phần. Phần lạc khoản có 49 chữ bằng văn xuôi. Tiếp theo phần thơ theo luật có 56 chữ. Ngoài ra, không có thêm chữ gì cả. Nhưng bài ghi ở đây đã tự tiện bỏ hẳn phần lạc khoản 49 chữ và cuối lại thêm chữ: “Ngự chế Thiên Nam động chủ” còn phần thơ có tới 5 chữ sai lệch. Như thế sao gọi là nguyên tác chuẩn xác thơ Lê Thánh Tông được?
Vào trong đền thờ ta thấy có 3 bức hoành phi. Bức giữa ghi 4 chữ: “Hồng Đức quân chiêm”. Như thế có trái với bài thơ Đức vua ghi hiệu là Quang Thuận không? Theo luật bố trí hoành phi: Vế bằng phải đặt bên phải, vế trắc phải đặt bên trái nhưng ở đây lại đặt ngược chiều. Vế hoành phi có 4 chữ “Nhật nguyệt trường minh” nghe cũng tạm được nhưng sao không gọi là “Nhật nguyệt quang minh” có hay hơn không?
Còn vế kia là “Sơn hà tịnh thọ” như vậy có sai quá không? Chữ “thọ” chỉ dùng cho con người thì hợp. Theo sử sách có ông Bành Tổ mới sống được 800 năm thôi mà đem ví với “Sơn hà xã tắc” thì không ổn! Sao không dùng ngay chữ trong bài thơ của Đức vua: “Sơn hà vạn cổ” hoặc là “Sơn hà vĩnh cửu”, “Sơn hà vĩnh trụ”…
Ta xem đến pho tượng ở gian giữa và bức phù điêu dát vàng ở cả hai bên. Đó là cảnh Đức vua đứng giữa các hàng văn võ bá quan, cảnh Đức vua chỉ huy thuỷ quân tập trận trên sông Bạch Đằng. Thời đó vua mới có 26 tuổi, một thanh niên cường tráng và mạnh mẽ. Mà hình ảnh ở đây lại là một ông già mặc áo hoàng bào có bộ râu dài? Như vậy có đúng với lịch sử không? Đành rằng theo quan niệm dân gian xưa nay vẽ vua hoặc đóng vai vua là phải có râu. Nhưng nếu khắc râu thì gương mặt vua phải đầy đặn, phương phi tuấn kiệt mới xứng với hình tượng đấng quân vương chứ!
Ta xem đến hàng loạt bài vị thờ bên trong: “Bài vị thờ cụ Lý Thường Kiệt, Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn, đức ông Trần Quốc Nghiễn và nhiều tuỳ tướng khác… Như thế có phù hợp với phong tục thờ cúng của Việt Nam không? Vì nhìn lên phía trên là bức hoành phi đề “Hồng Đức quân chiêm” là nơi thờ cúng vua Hồng Đức cơ mà?
Còn bài vị đức ông Trần Quốc Nghiễn lại ghi là “Đại Vương”. Trong sử sách đức ông chưa hề được phong là đại vương bao giờ! Ta tự ý ghi như vậy có thất lễ với tổ tiên không?
Nơi đây hàng ngày có đông đảo khách quốc tế đến tham quan họ sẽ nói gì về nền văn hoá Việt Nam trên đất Quảng Ninh này? Thời thế đổi thay chữ Hán nay không được thông dụng như trước nữa mà chữ quốc ngữ mới là chữ phổ thông của dân tộc ta. Cho nên tốt nhất là dùng chữ quốc ngữ. Nếu muốn lưu giữ chữ Hán cổ xưa thì phải cho phiên âm và dịch nghĩa ghi bằng chữ quốc ngữ thì con cháu Việt Nam chúng ta mới đọc được và khỏi mang tiếng là ta mù chữ cha ông trên chính quê hương mình.
Từ năm 1990 Hội Văn học nghệ thuật Quảng Ninh đã phát động tìm nguyên tác thơ Lê Thánh Tông. Đến nay ngày mùng 2-2-2012 tại hội Liên hoan thơ châu Á ở Hạ Long - Quảng Ninh, ông là Phạm Minh Chính, Bí thư Tỉnh uỷ Quảng Ninh và ông Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam đã dâng trình bản nguyên tác chuẩn xác rồi.
Chúng tôi kính mong lãnh đạo Trung ương, địa phương, các ngành, các cấp có liên quan với chức năng và trách nhiệm của mình sớm cho chỉnh sửa những sai sót không đáng có vừa nêu trên nhằm sớm đưa công trình văn hoa núi Bài Thơ nổi tiếng được hoàn chỉnh.
Nơi đây có bài thơ Lê Thánh Tông nổi tiếng muốn xây dựng một công trình văn hoá để lại cho muôn đời sau, tại sao ta không lấy tên là “Hồng Đức tao đàn” mà lại đặt tên là “Truyền Đăng sơn từ”?
Nơi này, ngoài bài thơ chính nổi tiếng của Đức vua Lê Thánh Tông ghi trên vách đá truyền đăng 1468 (Ta còn có thể đưa thêm các bài nhà vua viết về An Bang phong thổ, Tượng kì…). Như vậy, Quảng Ninh sẽ xây dựng công trình văn hoá đầy tính nhân văn của thời kỳ xã hội chủ nghĩa.
Vũ Anh Tuấn (TP Hạ Long) - Cẩm Phượng (Yên Hưng)