Vì sao Nhà máy ván sợi MDF dừng sản xuất?

Chúng tôi đến Nhà máy Ván sợi MDF (Lâm trường Hoành Bồ) vào một buổi chiều. Nhà máy đóng cửa, khung cảnh vắng tanh, vắng ngắt, chỉ có mỗi người làm công tácbảo vệ.

Bao giờ Nhà máy ván sợi MDF hoạt động trở lại?

Bao giờ Nhà máy ván sợi MDF hoạt động trở lại?

Tại khu tập thể Lâm trường, khác với không khí đông vui những ngày Nhà máy mới đi vào sản xuất nay im lìm. Tìm mãi mới gặp được một công nhân. Anh công nhân này cho biết, nhiều người đã bỏ việc. Vì thế, khu tập thể bây giờ rộng lắm, mỗi người được ở một phòng, không ai phải chung chạ với ai. Tôi ngỏ ý muốn tìm hiểu nội tình của sự việc này, anh công nhân kia nói cứ gặp chị Nhâm, sẽ có đầy đủ thông tin.

Chị Nhâm mà anh công nhân kia nhắc đến là chị Đoàn Thị Nhâm, Kế toán trưởng Lâm trường Hoành Bồ. Chị Nhâm tâm sự với tôi rằng chị rất đau xót trước tình cảnh hiện nay, vì chị đã làm việc ở đây gần 30 năm. “Cũng sắp đến tuổi về hưu rồi nên tôi không muốn có một sự xáo trộn nào đó. Thế nhưng, trước sự độc đoán, chuyên quyền của Giám đốc Lâm trường và vì quyền lợi của Nhà nước, tập thể nên tôi không thể im lặng mãi được”. Từ sự phản ánh của Kế toán trưởng Lâm trường, và làm việc với Bí thư Đảng uỷ và hai Phó Giám đốc Lâm trường, cùng anh em công nhân, chúng tôi được biết, từ khi Nhà máy Ván sợi MDF đi vào hoạt động (mặc dù chưa chính thức được bên thi công bàn giao), Lâm trường vẫn mua keo của Công ty Better Resin Co., Ltd ở Khu Công nghiệp Sóng Thần (tỉnh Bình Dương) để tiến hành sản xuất sản phẩm ván ép. Đến ngày 6-6-2006, Lâm trường ký hợp đồng kinh tế số 108/HĐ-KT với Công ty TNHH Tiến Bảo (địa chỉ khu 3, thị trấn Trới, huyện Hoành Bồ) để liên kết sản xuất keo. Trong hợp đồng này có những điều khoản hết sức ưu đãi cho bên A như: bố trí mặt bằng trong diện tích đất Lâm trường để bên A xây dựng nhà xưởng sản xuất keo; cho bên A sử dụng chung điện, nước và cơ sở hạ tầng để phục vụ sản xuất. Chất lượng keo trong hợp đồng áp dụng theo các thông số kỹ thuật của sản phẩm keo do Công ty Better Resin Co., Ltd đã cung cấp cho Lâm trường trước đây. Ngày 23 và 24-8-2006, Lâm trường nhận mẻ keo đầu tiên của Công ty Tiến Bảo với khối lượng 4.456,8 kg. Qua kiểm tra, chất lượng lô keo này không đảm bảo các chỉ tiêu theo hợp đồng. Thế nhưng, do Công ty Tiến Bảo mới đi vào sản xuất nên Lâm trường vẫn nhận để sản xuất thử. Khi nhận các lô keo thứ 2, thứ 3 của Công ty Tiến Bảo, Lâm trường kiểm tra và chất lượng tiếp tục không đảm bảo theo hợp đồng: hàm lượng rắn của keo chỉ đạt từ 53 đến 55% (hợp đồng hai bên ký kết quy định hàm lượng rắn phải đạt 60%±0,5). Mặc dù keo không đạt chất lượng thế nhưng Giám đốc Lâm trường, ông Nguyễn Duy Đãng vẫn yêu cầu các bộ phận chức năng và Nhà máy Ván sợi MDF nhập keo của Công ty Tiến Bảo để đưa vào sản xuất. Kết quả: sản phẩm ván MDF của Nhà máy không đạt chất lượng và đến ngày 29-8-2006, Nhà máy phải ngừng sản xuất. Ngày 4-9, Giám đốc Lâm trường tiếp tục lệnh cho Nhà máy tiếp tục sử dụng keo không đảm bảo chất lượng của Công ty Tiến Bảo để sản xuất với mức tiêu hao keo để tính trả tiền cho Công ty Tiến Bảo là 180 kg/m3 và số sản phẩm trên sẽ giao cho Công ty Tiến Bảo. Kết quả sản phẩm ván MDF sản xuất ra không đảm chất lượng, mà nguyên nhân ai cũng biết đượclà do chất lượng keo kém. Tại cuộc họp Lâm trường ngày 11-9, Giám đốc Lâm trường vẫn tiếp tục quyết định đưa lô keo sản xuất lần thứ 3 (cũng không đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng như hợp đồng đã ký, hàm lượng rắn chỉ đạt 53,79%) của Công ty Tiến Bảo vào Nhà máy Ván sợi MDF để sản xuất và vẫn lấy mức tiêu hao 180kg/m3 sản phẩm. Khi Kế toán trưởng Lâm trường và một số người khác phản đối việc làm này, thì Giám đốc Lâm trường đã đưa ra bản Phụ lục hợp đồng số 01/PL-HĐ do Lâm trường Hoành Bồ ký với Công ty Tiến Bảo ngày 8-6-2006, nội dung là điều chỉnh hàm lượng rắn trong Hợp đồng kinh tế số 108/HĐ-KT từ 60%±5% xuống còn 55%±5%. Theo nhiều người trong Lâm trường thì đây chỉ là động tác hợp thức hoá cho chất lượng keo sản xuất không đảm bảo chất lượng của Công ty Tiến Bảo, vì trước đó không ai được biết bản Phụ lục hợp đồng này. Nhiều CBCN Lâm trường không hiểu tại sao Giám đốc lại quyết định đồng ý điều chỉnh hàm lượng rắn của keo để nhận lấy những lô keo, khi thừa biết rằng đưa vào sản xuất sẽ chỉ cho ra những phế phẩm (?!). Chị Đoàn Thị Nhâm, Kế toán trưởng Lâm trường cho biết bản Phụ lục hợp đồng mà Giám đốc Lâm trường ký kết với Công ty Tiến Bảo không có mục nào quy định là thay thế cho điều nào trong hợp đồng số 108 HĐ-KT, vì thế, Phụ lục hợp đồng số 01/PL-HĐ là không có giá trị pháp lý.

Đến ngày 14-9, khi nhận lô keo thứ 4 của Công ty Tiến Bảo, thấy có hiện tượng đóng cặn, các bộ phận chức năng của Lâm trường tiến hành thử và kết luận: keo bị vón hòn, không dùng để sản xuất ván MDF được. Nhưng Giám đốc Lâm trường vẫn quyết định nhập keo vào để sản xuất. Ngày 19-9, Đảng uỷ Lâm trường tiến hành họp phiên mở rộng bàn về vấn đề này và ra nghị quyết: Lâm trường chỉ nhận keo đảm bảo chất lượng như hợp đồng đã ký kết với Công ty Tiến Bảo. Nhưng ngay hôm sau (15-9), Giám đốc Lâm trường lại tiếp tục chỉ đạo đưa keo không đảm bảo chất lượng vào sản xuất. Ngày 28-9, Bí thư Đảng uỷ Lâm trường đã yêu cầu cho dừng sản xuất, vì sản phẩm không đảm bảo chất lượng. Từ đó đến nay, Nhà máy không hoạt động. Theo báo cáo của Phòng Tài vụ Lâm trường thì toàn bộ chi phí Lâm trường Hoành Bồ phải bỏ ra trong thời gian sản xuất ván MDF bằng keo của Công ty Tiến Bảo là 324.949.499 đồng (không bao gồm giá keo). Trong khi Lâm trường chỉ thu được 81,47m2 gỗ ván ép kém chất lượng.

Tại sao Giám đốc Lâm trường không coi trọng ý kiến của cấp dưới, không chấp hành Nghị quyết của Đảng uỷ Lâm trường, liên tục có những quyết định đi ngược lại với lợi ích của Nhà nước, của tập thể và người lao động? Ngoài việc vợ Giám đốc Lâm trường (bà Nguyễn Thị Thả) đang làm việc ở Công ty TNHH Tiến Bảo và là người trực tiếp giao keo cho Lâm trường, còn có nguyên nhân nào nữa không? Có hay không chuyện Công ty Tiến Bảo thực chất là công ty của gia đình ông Giám đốc như dư luận ở đây vẫn bàntán? Các cơ quan chức năng cần sớm điều tra làm rõ, đồng thời xử lý nghiêm những sai phạm nhằm đưa Nhà máy hoạt động trở lại, bảo đảm quyền lợi của Lâm trường và quyền lợi của người lao động.

Cùng chuyên mục