Vũ Xuân Hồng với hồn quê trong thơ lục bát

Tự nhận mình là những Khúc đồng dao quê mùa, Vũ Xuân Hồng đã có cả một thời gian dài hàng chục năm sáng tác. Đến “Lục bát hồn quê” (NXB Hội Nhà văn 2018) ông đã có 8 tập thơ phần lớn làm theo thể lục bát ra đời.

Trên thi đàn Quảng Ninh, thơ ông để lại ấn tượng nhẹ nhàng, tươi trẻ, thấm đẫm tình quê, đầm ấm và giản dị như mái tranh mái rạ nông thôn Việt Nam. 

Trang bìa tập thơ.
Trang bìa tập thơ.

Với Lục bát hồn quê, cảnh xưa, người xưa, tình xưa một lần nữa dan dúi, níu kéo trong thơ Vũ Xuân Hồng: "Mẹ ta kho tép lá chanh/ Để làn khói bếp hóa thành hồn quê". Có thể nói, cả tập thơ là những vần lục bát duyên dáng, đậm chất khoai lúa đồng bằng Bắc Bộ, phất phơ như tấm khăn, lật giở như vạt áo, chân chất nghĩa tình của người nông dân làm lụng, yêu đương, giận dỗi, hờn ghen mà ta thân thuộc tự bao đời.

Từng mảng, từng vấn đề đều được ông thể hiện bằng chất liệu sản sinh từ bùn đất, cây đa, gốc gạo, giếng nước, sân đình, chùa chiền, củ sắn, mầm khoai, trăng thanh, gió mát, nắng xưa, ngõ khuất, thằng Bờm, chú Cuội, Tấm Cám, chuyện tình Chí Phèo Thị Nở…

Trên chất liệu cũ được bao nhiêu thi nhân khai thác, ông vẫn có những sáng tạo của riêng mình. Người đọc như thấy những câu thơ lấp lánh bên bờ tre ruộng lúa: “Gió lành cứ thoảng từng cơn/ Trăng quê cứ nhuộm rạ rơm thêm vàng…” và duyên dáng: “Nhà bên thiếu nữ gội đầu/ Mà sao xanh cả vườn dâu nhà người”.

Xa quê lâu ngày trở về thăm, ông gặp người bán nước chè ngoài cổng làng. Sự việc chả có gì, thậm chí còn rất đỗi quen thuộc nhưng đã cho ông những tứ thơ độc đáo: “Bà ngồi níu giữ một miền hồn quê”. Những chi tiết thật thơ mộng được khai thác không hiếm gặp trong “Lục bát hồn quê”. Điều ấy chứng tỏ ông đã lao tâm khổ tứ rất nhiều cho những trang viết. Công sức bỏ ra thật lớn nhưng đâu phải lúc nào cũng phấn khởi, cũng có những mùa màng bội thu. Phải sống ra sao mới có những câu thơ chắt lọc: “Vắt mình nuôi lúa đơm bông/ Hoa thơm trái ngọt đất không phụ người…”. Nó là cái vừa được ông tạo ra trên nền đất cũ: “Vẫn là bóng dáng cây đa/ Về làng mà ngỡ mẹ ra đón mình”.

Vũ Xuân Hồng còn trăn trở khai thác những hình ảnh mới, những yếu tố mới khi nông thôn đang nhộn nhạo đô thị hóa. Ranh giới cảm xúc không phải lúc nào cũng rõ rệt, rành mạch. Nhiều cái trân quý đã mất đi, cái sáng đẹp chưa kịp định hình. Làng quê với bao nhiêu lo toan trước đổi thay của xu thế, của thời cuộc. Mỗi câu chuyện ông đề cập đều bao gồm những vấn đề dễ lý giải mà khó có thể giải quyết. Trong sự vươn lên, đổi mới của làng quê là sự vật vã nghĩ suy của người nông dân bền bỉ với mảnh đất đã từng gắn bó. Bao nhiêu vướng mắc, trăn trở để người và đất vặn mình sinh sôi.

Đất nước có chiến tranh, như bao thanh niên khác, Vũ Xuân Hồng rời quê hương lên đường nhập ngũ. Sau 7 năm phục vụ trong quân đội, ông chuyển ngành về sinh cơ lập nghiệp trên mảnh đất Đông Triều. Trong “Lục bát hồn quê”,  ông không trực tiếp nói về những khắc nghiệt, đạn bom, hy sinh. Ông nói về nghĩa tình đồng đội, về “Ngã ba Đồng Lộc”, về “Tìm mộ liệt sĩ”, “Dòng sông Thạch Hãn”, “Thành cổ Quảng Trị…” với những câu thơ như nức nở, như an ủi, như sẻ chia trước những mất mát hy sinh anh dũng của đồng đội.

Tuy đề cập nhiều vấn đề, người đọc chỉ thấy cái tình quê của ông thật nặng trong tập thơ hơn 130 bài lục bát. Tất cả những những bài thơ ấy, ông muốn hồn quê hương ông luôn bền chắc và ngày một hồng hào tươi mới. Bởi trong chúng ta, ai mà không có những miền quê thân thương. Thật xao lòng mỗi khi trở lại quê mình, quê ông bà, cha mẹ, ta không còn phải dằn vặt như Vũ Xuân Hồng: “Lòng buồn mỗi dịp thăm quê/ Hồn quê sao chẳng còn về theo ta?” nữa. Người đọc thấy ông luôn đau đáu về một hồn quê đã khai sinh, nuôi dưỡng ông bên cạnh những đòi hỏi không phải là không chính đáng: “Suốt đời ta vẫn là ta/ Chỉ mong làm giọt phù sa mát lành”.

Mỗi người viết, người đọc đều có những tình cảm, những đòi hỏi khác nhau. Hãy cứ cầm trên tay “Lục bát hồn quê” của Vũ Xuân Hồng, bạn sẽ cảm nhận được hồn quê, tình quê của chính mình.

       
Nhà văn Trần Tâm

Cùng chuyên mục